Bộ ba khu trục hạm tên lửa chủ lực của Nhật


GDVN - Lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật Bản được đánh là một trong những lực lượng hải quân lớn nhất thế giới và lớn thứ hai ở châu Á. Quân số thường trực của quân phòng vệ khoảng 46.000 người với 110 tàu các loại. Nổi bật trong các loại tàu của lực lượng này là bộ ba khu trục hạm sau:

Khu trục hạm Asagiri

Khu trục hạm Asagiri được phát triển trên cơ sở khu trục hạm Hatsuyuki, được trang bị 4 động cơ tuabine khí Spey SM1A công suất 54.000 mã lực. Vũ khí gồm 2 ống phóng tên lửa chống hạm RGM-84 Harpoon, 1 ống phóng Mk29 với 8 tên lửa đối hạm ASROC, 1 ống phóng Mk112 với 8 tên lửa đối hạm ASROC, 1 bệ pháo 76mm OTO Melara,

2 tổ hợp pháo phòng không 20mm 6 nòng Mk15 Vulcan Phalanx, 4 súng máy 12,7mm, 2 thiết bị phóng ngư lôi 3 ống 324mm Type 68 với ngư lôi chống ngầm Mk46 Mod5, trực thăng chống ngầm HSS-2B Sea King hoặc SH-60J Sea Hawk.

Khu trục hạm Asagiri

Trong thành phần thiết bị vô tuyến điện gồm trạm radar phát hiện các mục tiêu trên không OPS-14C или OPS-24, trạm radar phát hiện các mục tiêu mặt nước OPS-28C, trạm radar điều khiển hỏa lực Type 2-22, trạm trinh sát kx thuật vô tuyến và tác chiến điện tử NOLR-6C, OLR-9C và OLT-3, trạm thủy âm OQS-4A, trạm thủy âm với anten kéo SQR-18A, hệ thống chế áp thủy âm AN/SLQ-25 Nixie.

Khu trục hạm chủ lực Asagiri đã được đưa vào trang bị tháng 3/1988. Đến năm 1991, có tất cả 8 khu trục hạm loại này được sản xuất.

Khu trục hạm Murasame

Khu trục hạm Murasame dùng để bảo vệ các đội tàu mặt nước, đổ bộ, các vùng hải phận và giải quyết các nhiệm vụ chống ngầm. Thân tàu được thiết kế với việc sử dụng các thành phần công nghệ tàng hình, có thể hấp thụ sóng vô tuyến.

Tàu được trang bị 2 động cơ tuabine khí LM-2500 với công suất 43.000 mã lực và 2 động cơ tuabine khí Spey SM1C công suất 41600 mã lực.

Khu trục hạm Murasame

Vũ khí gồm 2 bệ phóng tên lửa đối hạm SSM-1B, 1 bệ phóng thẳng đứng Mk48 với 64 tên lửa phòng không có điều khiển Sea Sparrow, bệ pháo 76mm OTO Melara, 2 tổ hợp pháo phòng không 6 nòng 20mm Mk15 Vulcan Phalanx, 2 thiết bị ngư lôi 3 ống phóng 324mm Type 68 với tên lửa đối hạm Type 89, trực thăng chống ngầm SH-60J.

Trong thành phần thiết bị vô tuyến điện có trạm radar phát hiện mục tiêu trên không OPS-24, radar phát hiện mục tiêu mặt nước OPS-28D, 2 radar điều khiển hỏa lực, 1 trạm radar trinh sát kỹ thuật vô tuyến OPN-7B và OPN-11B, 1 radar dẫn đường URN-25, 1 máy thu của hệ thống dẫn đường vệ tinh, 1 trạm thủy âm OQS-5, 1 trạm thủy âm với anten kéo OQR-1, hệ thống tự động điều khiển tác chiến OYQ-6(7), tổ hợp tác chiến điện tử NOLQ-2, hệ thống chế áp thủy âm AN/SLQ-25 iếc.Nixie. Tàu này được đưa vào biên chế tháng 3/196 và dự kiến sẽ đóng tất cả 6 chiếc.

Khu trục hạm Kongo

Khu trục hạm Kongo dùng để phòng không và chống ngầm, bảo vệ các đội tàu nổi, đổ bộ và chống lại các tàu nổi của đối phương. Các thành phần của nó tương tự các thành phần của tàu khu trục Arleigh Burke của Mỹ. Kongo được trang bị 4 động cơ tuabine khí LM-2500 với công suất lớn.

Khu trục hạm Kongo

Vũ khí gồm 2 bệ phóng tên lửa đối hạm RGM-84 Harpoon, 2 bệ phóng thẳng đứng Mk41 với cơ số đạn 90 tên lửa phòng không có điều khiển Standard SM2MR và tên lửa chống ngầm ASROC, 1 pháo 12,7mm OTO Melara, 2 tổ hợp pháo phòng không 20mm 6 nòng Mk15 Vulcan Phalanx, 4 súng máy 12,7mm, 2 thiết bị phóng ngư lôi 3 ống phóng 324mm Mk32 Mod14 với ngư lôi chống ngầm Mk46 Mod5, trực thăng chống ngầm SH-60J Sea Hawk.

Thiết bị vô tuyến điện gồm trạm radar phát hiện mục tiêu trên không SPY-1D, trạm radar phát hiện mục tiêu mặt nước OPS-28C, 3 trạm radar điều khiển hỏa lực SPG-62 và 1 Mk2/21, 1 trạm radar dẫn đường URN-25, các trạm radar trinh sát kỹ thuật vô tuyến và tác chiến điện tử NOLR-6C, OLR-9C, OLT-3… Tàu được đưa vào biên chế năm 1993 và đến năm 1998 đã đóng tất cả 4 chiếc loại này.

Nguyễn Hưng (Tổng hợp)

đọc tiếp »

Sức mạnh tàu sân bay hiện có của các nước


BEE - Sở hữu tàu sân bay, những căn cứ không quân trên biển, trung tâm của mỗi hạm đội đã là khó, chế tạo chúng càng khó hơn.

Tàu sân bay Garibaldi, Italia

Tàu sân bay Garibaldi dài 180 m, rộng 23,8 m, mớn nước 6,7 m, lượng choán nước chuẩn 10.100 tấn – tối đa 13.370 tấn, thiết bị động cơ là 4 tuabin khí LM-2500, tổng công suất 80.000 mã lực, 2 chân vịt, tốc độ tối đa 30 hải lý/giờ, khả năng chạy liên tục 7.000 hải lý với vận tốc 20 hải lý/giờ. Đường băng thẳng, dài 173,8 m, rộng 30,4 m, đầu trước đường băng vát lên 6,5 độ, có thể làm nơi đỗ cho 6 máy bay cất/hạ cánh thẳng đứng AV-8B Harrier II hoặc 6 trực thăng SH-3D Sea King.

Kho chứa máy bay được xây dựng ở dưới sàn tàu, dài 110 m, rộng 15 m, cao 6 m, tổng diện tích 1.650 m2, có thể đậu 12 chiếc AV-8B hoặc 12 chiếc Neptune. Cấu trúc tầng trên của mạn tàu phải ở cả trước và sau đều có 1 thang máy, dài 18 m, rộng 10 m, tải trọng 15 tấn. Biên chế cả tàu 825 người, trong đó có 550 thủy thủ, 230 nhân viên hàng không, còn lại là nhân viên Bộ Tư lệnh. Tiêu chuẩn máy bay mang theo là 8 chiếc AV-8B và 8 chiếc Sea King, trong trường hợp đặc biệt cũng có thể tải được 16 chiếc AV-8B hoặc 18 chiếc Neptune.

Tàu sân bay Garibaldi được gọi là tàu sân bay có trọng tải nhỏ nhất trên thế giới.

Tàu sân bay Garibaldi là tàu sân bay hạng nhẹ có tính đại diện, xuất hiện sau tàu lớp Invincible, nó là tàu hạng nhẹ hơn so với tàu Invincible, lượng choán nước chỉ bằng 2/3 tàu lớp Invincible, được gọi là tàu sân bay có trọng tải nhỏ nhất trên thế giới. Bề ngoài của nó rất tương đồng với tàu lớp Invincible, cũng được thiết kế đường băng thẳng, phần đầu đường băng chếch 6,5 độ. Trải qua thiết kế cẩn thận, trọng tải tuy nhỏ, nhưng lại mang được 16 – 18 máy bay.

Vũ khí trang bị trên tàu đầy đủ, có thể tấn công, phòng thủ toàn diện như chống hạm, phòng không và chống tàu ngầm, vừa có thể là tàu chỉ huy của hạm đội tàu sân bay, vừa có thể hoạt động độc lập. Động cơ sử dụng tua-bin chạy ga có thể tích nhỏ, trọng lượng nhẹ, khởi động nhanh, điều khiển linh hoạt, làm cho tốc độ đạt 30 hải lý/giờ, hơn nữa có tính cơ động mạnh, từ trạng thái tĩnh đến trạng thái hết công suất chỉ cần 3 phút.

Nhiệm vụ chính của tàu là thực hiện tuần tra cảnh giới ở Địa Trung Hải, chốt chặn và bảo vệ đường hàng hải Eo biển Gibraltar, độc lập hoặc dẫn đầu hạm đội thực hiện nhiệm vụ chống tàu ngầm, phòng không và chống hạm, yểm trợ và chi viện cho tấn công đổ bộ, hộ tống cho đội tàu vận tải, đảm bảo tự do lưu thông hàng hải…

Năm 1993, tàu này bắt đầu mang theo máy bay cánh cố định, từ đó đã nâng cao rất lớn khả năng tác chiến kiểm soát bầu trời, kiểm soát biển của con tàu này. Hiện nay, Italia đã có kế hoạch chế tạo một tàu sân bay mới tương tự tàu Hoàng tử Asturias của Tây Ban Nha, lượng choán nước tối đa 20.100 tấn, máy bay mang theo là 12 chiếc AV-8B, 4 chiếc trực thăng chống tàu ngầm EH101 và 3 chiếc trực thăng cảnh báo sớm EH101.

Tàu sân bay Cavour, Italia

Tàu sân bay Cavour có lượng choán nước là 27.100 tấn, do xưởng đóng tàu Fenkandini của Italia chế tạo, được gọi là tàu chiến động cơ phi hạt nhân mạnh nhất thế giới. Hợp đồng chế tạo tàu sân bay Cavour được ký tháng 11/2000, khởi công vào tháng 6/2001, hạ thủy và trang bị vào tháng 6/2004, bàn giao cho hải quân Italia năm 2008.

Chiều dài: 244 m. Chiều rộng: 39 m. Mớn nước: 8,7 m. Đường băng: 186 m. Lượng choán nước: chuẩn 21.160 tấn, tối đa 27.100 tấn. Động cơ: 88.000 mã lực. Khả năng chạy liên tục: 7000 hải lý, vận tốc 18 hải lý/giờ. Khả năng duy trì: > 18 ngày. Hệ thống động cơ: Hệ thống đẩy COGAG, 4 tuabin khí General Electric/Avio LM2500, 2 chân vịt. Tốc độ: 28 hải lý/giờ.

Tàu sân bay Cavour do Italia chế tạo, được gọi là tàu chiến động cơ phi hạt nhân mạnh nhất thế giới.

Hệ thống vũ khí: 2 khẩu pháo bắn nhanh 76 mm OTO Breda 76/62 SR, 3 khẩu pháo bắn nhanh 25 mm Oto Breda Oerlikon KBA, 4 hệ thống phóng thẳng 8-cell SYLVER A43 (trang bị tên lửa hạm đối không Aster-15).

Máy bay: 12 - 16 chiếc máy bay chiến đấu AV-8B Harrier hoặc máy bay chiến đấu Lockheed Martin F-35B, 3 máy bay cảnh báo sớm EH-101 Mk.112 AEW/HEW, 4 - 6 máy bay trực thăng chống tàu ngầm EH-101, NH-90 hoặc SH -3D; hoặc 30 máy bay trực thăng.

Tàu sân bay Illustrious, Anh

Tàu sân bay hạng nhẹ Illustrious là tàu sân bay lớp Invincible thứ hai của Anh, biên chế tháng 6/1982. Tàu dài 206,6 m, rộng 27,5 m, mớn nước 8,0 m, lượng choán nước chuẩn 16.256 tấn, tốc độ 28 hải lý/giờ. Tàu này thực tế có khả năng mang 20 máy bay (10 máy bay cất/hạ cánh thẳng Seagull, 10 trực thăng Sea King). Vũ khí chính trên tàu là 1 thiết bị tên lửa đối không See Dart, 2 pháo phòng thủ gần 20 mm, 2 khẩu pháo 20 mm.

Tàu sân bay hạng nhẹ Illustrious là tàu sân bay lớp Invincible thứ hai của Anh.

-Chiều dài: 206,6 m. Chiều rộng: 27,7 m.
- Lượng choán nước: chuẩn 16.000 tấn; tối đa 20.300 tấn.
- Động cơ chính: 4 tuabin khí Olin Phillips TM-3B.
- Tổng công suất: 112.000 mã lực, 2 chân vịt.
- Tốc độ tối đa: 28 hải lý/giờ.
- Khả năng chạy liên tục: 7000 hải lý, vận tốc 18 hải lý/giờ.
- Biên chế: 1.051 người, trong đó 685 thủy thủ, 366 nhân viên hàng không.
- Máy bay mang theo chuẩn là 8 máy bay chiến đấu cất/hạ cánh thẳng Sea Harrier và 12 máy bay trực thăng Sea King.


Tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov, Nga

Tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov là tàu sân bay đầu tiên mang theo máy bay cánh cố định do Nga (Liên Xô cũ) sản xuất. Tàu này từng 3 lần đổi tên, chính thức đi vào hoạt động năm 1991. Hệ thống vũ khí trang bị trên tàu đầy đủ, uy lực mạnh. Lượng choán nước tối đa 58.500 tấn, chiều dài 304,5 m, chiều rộng 37 m, đường băng rộng 70 m, mớn nước 10,5 m. Tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov hiện là tàu sân bay duy nhất của hải quân Nga, sẽ tiến hành cải tiến hiện đại hóa toàn diện vào năm 2012 và hoàn thành vào năm 2017.

Tàu Đô đốc Kuznetsov được trang bị hỏa lực phòng không mạnh. Chủ lực là 4 tên lửa phòng không phóng thẳng SA-N-9, với 192 đầu đạn, tầm bắn là 15.000 m; ngoài ra còn có 8 hệ thống phòng thủ gần Cads-N-1, 2 pháo 30mm6, 8 tên lửa tầm ngắn SA-N-11, tầm phóng của pháo là 2.500 m, tầm bắn tên lửa là 8.000 m; hơn nữa còn có 4 pháo 30 mm 6 nòng AK-630, tầm bắn 2.500 m, tốc độ bắn 3000 phát/phút.

Tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov là tàu sân bay đầu tiên mang theo máy bay cánh cố định do Nga (Liên Xô cũ) sản xuất.

Điểm đặc biệt của tàu Đô đốc Kuznetsov ở chỗ, nó là một “khối hỗn hợp” tuyệt vời: Nó vừa có có 2 đoạn đường băng xiên thẳng riêng có của tàu sân bay kiểu hạm đội, vừa có đường băng cất cánh kiểu ski jump cong 12 độ thông dụng của tàu sân bay hạng nhẹ; không có máy phóng, nhưng có thể bảo đảm cất/hạ cánh cho máy bay chiến đấu cánh cố định hạng nặng.

Điều kỳ diệu này nằm ở sự kết hợp giữa phương thức cất cánh kiểu ski jump (do Anh sáng tạo) với máy bay chiến đấu Su-27 có tính năng khí động học nổi trội. Trong điều kiện hy sinh tính năng tác chiến của máy bay, cuối cùng Nga đã sở hữu “tàu sân bay cỡ lớn”, nhưng họ tự xưng là “tàu tuần dương mang theo máy bay”.

Sau khi tàu Đô đốc Kuznetsov đi vào hoạt động, hải quân thế giới đã xuất hiện phương thức cất cánh mới trên tàu sân bay, đó là cất cánh kiểu ski jump, hạ cánh nhờ cáp hãm đà. Trong điều kiện thông thường, máy bay được sử dụng là: 20 máy bay chiến đấu Su-33, 15 máy bay trực thăng chống tàu ngầm Ka-27, 4 máy bay huấn luyện Su-25UGT và 2 máy bay trực thăng cảnh báo sớm Ka-29RLD.

Tàu sân bay Charles de Gaulle, Pháp

Tàu sân bay hạt nhân Charles De Gaulle được Bộ trưởng Quốc phòng Pháp ký lệnh chế tạo vào tháng 2/1986. Tháng 1/1987, Charles de Gaulle R91 cuối cùng đã hoàn thành bản thiết kế tại nhà máy đóng tàu Brest. Tháng 11/1987 bắt đầu cắt tấm thép đầu tiên, tháng 4/1989 bắt đầu lắp ráp tại cảng nhà máy đóng tàu Brest, tháng 7/1994 hạ thủy, tháng 9/2000 chính thức hoạt động. Tàu sân bay Charles de Gaulle không chỉ là tàu sân bay chạy bằng động cơ hạt nhân đầu tiên của Hải quân Pháp, mà nó còn là tàu sân bay hạt nhân duy nhất không phải của hải quân Mỹ.

Tàu sân bay Charles de Gaulle ban đầu có ý định trang bị vũ khí là tên lửa hành trình Tomahawk của Mỹ, nhưng Mỹ không bán cho Pháp. Pháp đành phải hợp tác với Anh phát triển tên lửa Storm Shadow. Tàu Charles de Gaulle hoạt động không lâu thì tên lửa hành trình Storm Shadow được phát triển thành công. Người Pháp vô cùng mừng rỡ, đã lập tức trang bị tên lửa Storm Shadow cho tàu Charles de Gaulle. Storm Shadow là loại tên lửa hành trình tàng hình đầu tiên trên thế giới.

Tàu sân bay Charles de Gaulle không chỉ là tàu sân bay chạy bằng động cơ hạt nhân đầu tiên của Hải quân Pháp, mà nó còn là tàu sân bay hạt nhân duy nhất không phải của hải quân Mỹ.

Sử dụng hệ thống kiểm soát hỏa lực mới là một cải tiến quan trọng khác của tàu sân bay Charles de Gaulle, bao gồm hệ thống SAAM-FR và hệ thống SAAM-IT. Hệ thống SAAM-FR được hợp thành bởi một bộ hệ thống kiểm soát hỏa lực (gồm radar Arabal tích hợp), thiết bị phóng thẳng SYLVER và tên lửa Aster 15. Còn hệ thống SAAM-IT được hợp thành bởi một bộ hệ thống kiểm soát hỏa lực (gồm radar EMPAR tích hợp), thiết bị phóng thẳng SYLVER và tên lửa Aster 15. Hệ thống kiểm soát hỏa lực mới có thể dùng cho thực hiện nhiều nhiệm vụ, đối phó với các mối đe dọa trong tương lai.

Máy bay chiến đấu Rafale trang bị cho tàu sân bay Charles de Gaulle cũng đã được nâng cấp về công nghệ, tính năng của nó đã được phát triển rất lớn, không những có khả năng tác chiến trên không rất mạnh, mà còn có khả năng tấn công đối đất nhất định. Khi sử dụng trên mặt biển, hệ thống theo dõi địa hình đã có thể bảo đảm cho Rafale bay thấp với độ cao chỉ là 30,5 m. Rafale F3 được đưa vào hoạt động trước năm 2007 và là loại máy bay chiến đấu đa năng toàn diện.

Tàu sân bay NAe Sao Paulo, Brazil

Tàu sân bay NAe São Paulo là tàu Fock được Brazil mua từ Pháp năm 2000, là tàu sân bay duy nhất của hải quân Brazil hiện nay. Tàu này vốn là tàu Fock, thuộc lớp Clemenceau được biên chế cho hải quân Pháp năm 1963, lượng choán nước là 32.780 tấn, dài 265 m, rộng 31,7 m, có thể mang theo 37 máy bay chiến đấu cánh cố định, 2 máy bay trực thăng. Tàu này có thể mang theo 1.300 thủy thủ.

Tàu sân bay NAe Sao Paulo là tàu Fock được Brazil mua từ Pháp năm 2000. Đây là tàu sân bay duy nhất của hải quân Brazil hiện nay.

- Lượng choán nước tối đa: 32.780 tấn. Chiều dài: 265 m.Chiều rộng: 31,7 m.Đường băng rộng nhất: 51,2 m.
- Mớn nước: 8,6 m. Thiết bị động cơ: Động cơ thông thường, 2 tua bin hơi, 2 chân vịt. Công suất: 92,65 MW (126.000 mã lực).
- Tốc độ: 32 hải lý/giờ. Khả năng chạy liên tục: 7.500 hải lý, vận tốc 18 hải lý/giờ.
- Vũ khí trang bị chính: 2 hệ thống tên lửa phòng không Sidewinder, 2 hệ thống tên lửa phòng không tầm ngắn West Wind, 4 pháo nòng đơn 100 mm.
- Máy bay: 37 máy bay cánh cố định, 2 máy bay trực thăng. Biên chế: 1.017 thủy thủ, 672 nhân viên hàng không.


Tàu sân bay Virrat, Ấn Độ

Tàu sân bay Virrat nguyên là tàu HMS Hermes của hải quân Hoàng gia Anh. Trong hải chiến quần đảo Malvinas giữa Anh và Argentina, tàu này đã đóng vai trò không nhỏ khi tham chiến với tư cách là tàu chỉ huy của hạm đội đặc nhiệm Anh.

Tàu sân bay Virrat nguyên là tàu HMS Hermes của hải quân Hoàng gia Anh.

Tháng 4/1986, hải quân Ấn Độ đã mua con tàu này của Anh có giá khá rẻ 25 triệu bảng Anh, sau khi được cải tạo và đại tu đã đổi tên là Virrat; đồng thời còn mua 12 máy bay chiến đấu cất/hạ cánh cự ly ngắn/thẳng đứng Sea Harrier để trang bị cho tàu sân bay.

Tàu có lượng choán nước chuẩn là 23.900 tấn - tối đa 28.700 tấn; chiều dài 226,9 m, chiều rộng 27,4 m, mớn nước 8,7 m; thiết bị động cơ là 2 tua bin khí, công suất tối đa là 76.000 mã lực, tốc độ tối đa 28 hải lý/giờ. Tàu sân bay Virrat đã qua nhiều lần cải tạo, chủ yếu có nhiệm vụ chống tàu ngầm, kiểm soát trên không và chỉ huy.

Tàu sân bay Chakri Naruebet, Thái Lan

Tháng 3/1992, Hải quân Hoàng gia Thái Lan đã ký với Công ty đóng tàu Bazin, Tây Ban Nha, đặt mua một tàu sân bay hạng nhẹ trang bị máy bay trực thăng và máy bay cất/hạ cánh cự ly ngắn thẳng đứng Harrier, do nhà máy đóng tàu Faroe của công ty này chế tạo. Qua chưa đến 4 năm thiết kế và thi công, tháng 1/1996 70% lượng công việc đã hoàn thành, đến ngày 20/1 hạ thủy. Hoàng hậu Sirikit của Thái Lan đã thân chinh đến Tây Ban Nha, cùng với Nữ hoàng Tây Ban Nha là Sofia tổ chức buổi lễ hạ thủy, Tư lệnh hải quân hai nước cũng đã tham gia buổi lễ long trọng này.

Tàu sân bay hạng nhẹ này của hải quân Hoàng gia được quốc vương Thái Lan đặt tên là Chakri Naruebet. Chakri là tên của quốc vương khai quốc của vương triều Bangkok. Đồng thời, công bố số hiệu tàu là 911.

Tàu sân bay hạng nhẹ này của hải quân Hoàng gia được quốc vương Thái Lan đặt tên là Chakri Naruebet. Chakri là tên của quốc vương khai quốc của vương triều Bangkok.

Sau khi hạ thủy, tiến triển của công trình vẫn rất thuận lợi, đến tháng 10, tàu sân bay cơ bản hoàn thành và có thể đi vào giai đoạn thử nghiệm trên biển. Theo đó, hải quân Thái Lan đã cử lực lượng tiếp nhận đến Tây Ban Nha cùng tàu ra biển, trải qua khoảng nửa năm vừa thử nghiệm vừa giao nhận, đến ngày 20/3/1997, tàu này đã được bàn giao cho hải quân Thái Lan.

Từ khi ký hợp đồng cho đến khi bàn giao chỉ có 5 năm, đây là thành tựu đáng tự hào của nhà máy đóng tàu, bởi vì trước đó họ đã mất đến 10 năm để chế tạo tàu sân bay hạng nhẹ Hoàng tử Asturias cho hải quân Tây Ban Nha. Sau khi bàn giao, tàu sân bay rời bến cảng nhà máy đóng tàu, đến căn cứ Rota của hải quân Tây Ban Nha, tiếp tục tiến hành huấn luyện khoảng 4 tháng cho thủy thủ.

Với sự giúp đỡ của hải quân Tây Ban Nha, tiến hành các bài tập huấn luyện gồm cả tác nghiệp bay, để lực lượng tiếp nhận nắm được thao tác kỹ thuật. Đến tháng 8/1997, hải quân Hoàng gia Thái Lan đã đón tàu về nước, đóng tại căn cứ hải quân lớn nhất Thái Lan là Sattahip. Sau đó, Thái Lan đã tự trang bị thêm một số vũ khí, hệ thống tác chiến và các hệ thống điện, nước làm mát, khí nén, điều hòa, những hệ thống đó đã được thiết kế từ trước, chỉ cần lắp đặt là xong. Tàu sân bay đã chính thức được đưa vào sử dụng năm 1998.

Tàu sân bay Hoàng tử Asturias, Tây Ban Nha

Tàu sân bay Hoàng tử Asturias được cải tiến dựa trên thiết kế tàu kiểm soát biển của Mỹ. Nó có thể mang theo máy bay cất/hạ cánh cự ly ngắn thẳng đứng và máy bay trực thăng, là một tàu sân bay hạng nhẹ hiện đại khác của Tây Ban Nha.

Năm 1990, con tàu này được cải tạo một phần, tiến hành cải tiến đối với kiến trúc tầng trên kiểu đảo, làm cho khoang chính được bố trí hợp lý hơn, máy bay trên bãi đỗ được bố trí thiết bị bảo vệ; ngoài ra đã cải tiến điều kiện ở, làm cho tàu có thể tăng thêm 6 sĩ quan và 50 nhân viên kỹ thuật.

Tàu sân bay Hoàng tử Asturias được cải tiến dựa trên thiết kế tàu kiểm soát biển của Mỹ.

Trong năm đầu tiên khởi công tàu này, Mỹ từng cấp vốn vay là 150 triệu USD, chi phí chế tạo ước tính khoảng 275 triệu USD.

- Lượng choán nước tối đa: 17.188 tấn. Chiều dài: 195,9 m. Chiều rộng: 24,3 m.
- Mớn nước: 9,4 m. Thiết bị động cơ: động cơ thông thường, 2 tua bin khí, chân vịt đơn. Công suất: 34,1 MW (46.400 mã lực).
- Tốc độ: 26 hải lý/giờ. Khả năng chạy liên tục: 6.500 hải lý, vận tốc 20 hải lý/giờ.
- Vũ khí trang bị chính: 4 hệ thống vũ khí tác chiến tầm ngắn 20 mm.
- Máy bay: 12 chiếc máy bay cất/hạ cánh cự ly ngắn thẳng đứng (V / STOL), 16 trực thăng.
- Nhân viên: 555 thủy thủ, 208 người gồm chỉ huy và nhân viên hàng không.


Đức Trọng (Theo Tân Hoa Xã)

đọc tiếp »

Khám phá đội tàu sân bay của hải quân Mỹ


BEE - Hải quân Mỹ hiện có 11 chiếc tàu sân bay với 2 lớp khác nhau.

Đó là 1 tàu sân bay hạt nhân lớp Enterprise là Enterprise CVN 65; 10 tàu sân bay hạt nhân lớp Nimitz: Nimitz CVN68, Eisenhower CVN69, Carl Vinson CVN70, Roosevelt CVN71, Lincoln CVN72, Washington CVN73, Stennis CVN73, Truman CVN75, Ronald Reagan CVN76, Bush CVN77.

Tàu sân bay USS Enterprise CVN65

USS Enterprise CVN65 là tàu thứ 8 sử dụng tên Enterprise trong lịch sử thế giới, và là tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên trên thế giới. Enterprise khởi công ngày 4/2/1958, hạ thủy năm 1960, chính thức gia nhập hải quân Mỹ ngày 25/11/1961.

Năm 1964, Enterprise đã có cuộc hành trình vòng quanh thế giới chưa từng có, không cần tiếp tế trong cả cuộc hành trình, tổng thời gian 64 ngày, cuộc hành trình dài tới trên 30.000 hải lý, đã phản ánh đầy đủ khả năng chạy liên tục cực lớn của động cơ hạt nhân. Từ năm 1979 đến tháng 3/1982 tàu Enterprise đã được tiếp tế nhiên liệu và cải tạo hiện đại hóa. Các kiến trúc kiểu đảo phía trên được bố trí lại, trang bị thêm tên lửa Sea Sparrow. Đến đầu thế kỷ 21 nó vẫn là lực lượng chủ yếu của hải quân Mỹ.

USS Enterprise CVN65 là tàu thứ 8 sử dụng tên Enterprise trong lịch sử thế giới, và là tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân đầu tiên trên thế giới.

Lượng choán nước 85.600 tấn, dài 342 m; mạn tàu rộng 40 m, đường băng rộng tối đa 76 m. Thiết bị động cơ là 8 lò phản ứng a2w, 4 tua-bin hơi nước, 4 chân vịt, tổng công suất của máy chính là 280.000 mã lực, tốc độ 33 hải lý/giờ. Thay nhiên liệu 1 lần có thể chạy 200 – 500.000 hải lý. Thân tàu Enterprise cơ bản giống với tàu sân bay lớp Kitty Hawk, đường băng được thiết kế kiểu đóng kín, từ đáy tàu đến đường băng hình thành kết cấu hình hộp tổng thể, trên hai đoạn đường băng thẳng xiên lần lượt có 2 máy phóng hơi nước, trên đường băng góc nghiêng có 4 cáp chắn và 1 mạng chắn, thang máy có 3 chiếc ở mạn tàu phải, 1 chiếc ở mạn tàu trái.

USS Enterprise từng tham gia quay hình cho bộ phim "The Hunt for Red October", và được Georges Bloom của Pháp viết vào cuốn sách "The rest life of Ocean". Trên đường băng của Enterprise đã từng xảy ra vụ rơi võ tan máy bay.

Tàu sân bay Nimitz CVN68

Tàu sân bay Nimitz là tàu sân bay hạt nhân thứ hai của Mỹ, là tàu đầu tiên lớp Nimitz lớn nhất thế giới. Tàu được đặt tên là CVN68. Tàu này do Công ty đóng tàu Newport News Shipbuilding (NNS) của Mỹ chế tạo. Tháng 6/1968 khởi công, tháng 5/1972 hạ thủy, tháng 5/1975 đưa vào sử dụng.

Đầu tiên nó được biên chế cho hạm đội Đại Tây Dương, cảng chính là Norfolk ở bờ biển phía Đông. Từ tháng 6/1983 - 9/1984 được đưa vào đại tu tại nhà máy đóng tàu, tăng thêm và đổi mới một số thiết bị. Năm 1987 nó được điều sang Hạm đội Thái Bình Dương, cảng chính là Bremerton. Còn chỗ chống của nó ở Hạm đội Đại Tây Dương được tàu Roosevelt thay thế từ tháng 9/1986. Sau khi đại tu năm 1998, nó được chuyển đến San Diego.

Tàu sân bay Nimitz là tàu sân bay hạt nhân thứ hai của Mỹ, là tàu đầu tiên lớp Nimitz lớn nhất thế giới.

- Chiều dài: 332,9 m, chiều rộng: 40,8 m, đường băng rộng tối đa 76,8 m, mớn nước 11,3 m (CVN-71 là 11,8 m, từ CVN-72 trở đi là 11,9 m).
- Thiết bị động cơ: động cơ hạt nhân với 2 lò phản ứng, 4 tuabin hơi nước, 4 động cơ diesel ứng phó với trường hợp khẩn cấp, công suất 4 chân vịt: 194 MW (260.000 mã lực), tốc độ: 30 hải lý/giờ, khả năng chạy liên tục: 800.000 - 1 triệu hải lý.
- Vũ khí trang bị chính: 3 hệ thống tên lửa phòng không Sea Sparrow, 4 hệ thống vũ khí cận chiến Phalanx (CVN-68 và CVN-69 là 3), 3 hệ thống phóng ngư lôi 324 mm, khoảng 80 máy bay cánh cố định, 6 trực thăng.
- Biên chế: 3.184 thủy thủ, 2.800 nhân viên hàng không.

Tàu sân bay Eisenhower CVN69

Tàu sân bay USS Dwight D. Eisenhower CVN-69 là tàu sân bay hạt nhân lớp Nimitz thứ hai của Mỹ. Con tàu này mang tên vị Tổng thống thứ 34 của Mỹ, người lãnh đạo nước Mỹ đi qua Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Dwight Eisenhower. Tàu Eisenhower được khởi công chế tạo vào năm 1970, hạ thủy năm 1975, bắt đầu gia nhập hải quân Mỹ năm 1977. Tổng chi phí chế tạo là 2 tỷ USD. Lượng choán nước tối đa là 91.500 tấn, dài 332,9 m, rộng 40,8 m, đường băng có sườn dốc dài 332,9 m, rộng 76,8 m. Kho chứa máy bay dài 208 m, rộng 33 m, cao 8 m.

Tàu sân bay USS Dwight D. Eisenhower CVN-69 là tàu sân bay hạt nhân lớp Nimitz thứ hai của Mỹ. Con tàu này mang tên vị Tổng thống thứ 34 của Mỹ.

Tốc độ cất cánh của máy bay trên tàu USS Eisenhower rất cao, trên đường băng được bố trí 4 máy phóng hơi nước được sử dụng khi máy bay cất cánh. Tỷ lệ phóng là 1 máy bay/20 giây, 7 – 8 phút có thể cất cánh được 1 phi đội. Mỗi ngày có thể xuất kích trên 200 lượt máy bay, thực hiện nhiệm vụ tấn công tầm xa. Tàu Eisenhower sử dụng động cơ chạy bằng năng lượng hạt nhân, vì vậy có hiệu quả chiến đấu và sức răn đe lớn hơn so với tàu sân bay cỡ lớn chạy bằng động cơ thông thường.

Nhiên liệu hạt nhân trên tàu có thể sử dụng liên tục trong 13 năm, tốc độ lớn nhất là 33 hải lý/giờ, khả năng chạy liên tục là 800 – 1300 hải lý, không cần thêm nhiên liệu có thể chạy vòng quanh thế giới với tốc độ 30 hải lý/giờ. Nhiên liệu dành cho máy bay là 10.000 tấn, có thể bảo đảm cho máy bay trên tàu hoạt động trong 16 ngày. Trên tàu còn có trang thiết bị tiếp tế cho tàu chạy, có thể nhận tiếp tế khi đang chạy với vận tốc 20 hải lý/giờ, lượng tiếp tế là 200 tấn/giờ.

Tàu sân bay Carl Vinson CVN70

Tàu sân bay USS Carl Vinson của hải quân Mỹ được đặt theo tên của một nghị sĩ Quốc hội Mỹ vào năm 1980, có số hiệu CVN70, thuộc tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân, là tàu thứ ba của tàu sân bay lớp Nimitz của hải quân Mỹ, dài hơn 330 m, lượng choán nước tối đa hơn 90.000 tấn, tốc độ 30 hải lý/giờ, đưa vào biên chế ngày 13/3/1982. Từ tháng 3/1983 đến năm 1998, tàu sân bay USS Carl Vinson đã 8 lần đến Tây Thái Bình Dương tham gia các hoạt động quân sự. Tháng 7/1999, tàu sân bay USS Carl Vinson quay trở lại quân cảng đại tu 11 tháng. Hải quân Mỹ đã chi 220 triệu USD để cải tạo trang bị của con tàu này.

Tàu sân bay USS Carl Vinson của hải quân Mỹ được đặt theo tên của một nghị sĩ Quốc hội Mỹ vào năm 1980.

- Biên chế: 3.105 thủy thủ, 2885 nhân viên hàng không, 72 lính thủy đánh bộ.
- Lượng choán nước: chuẩn 81.600 tấn, tối đa 91.487 tấn.
- Thân tàu: dài 332,2 m, rộng 40,8 m. Đường băng: dài 335,6 m, rộng 77,1 m. Mớn nước: 11,3 m.
- Tốc độ tối đa: 30 hải lý/giờ. Chi phí (năm 1980): khoảng 3,9 tỷ USD.

Tàu sân bay Roosevelt CVN71

Tàu sân bay Theodore Roosevelt là tàu sân bay hạt nhân lớp Nimitz thứ tư của Mỹ, được khởi công chế tạo từ năm 1981, chính thức hạ thủy năm 1984. Theodore Roosevelt là vị Tổng thống thứ 26 của nước Mỹ (nhiệm kỳ 1901-1909), bản thân ông là một người hâm mộ (fan) của Hải quân. Ông chủ trương Mỹ cần có một lực lượng hải quân lớn mạnh, do đó trong nhiệm kỳ của ông, Mỹ đã hoàn thành Hạm đội Trắng (Great White Fleet, tên này xuất phát từ các vỏ tàu chiến của hạm đội khi đó đều sơn màu trắng).
Tàu Roosevelt mặc dù được chế tạo trên nền tảng tàu sân bay lớp Nimitz, nhưng 6 chiếc lớp Nimitz sau đó (kể từ Roosevelt CVN71 trở đi) đã có thay đổi rất lớn về yêu cầu tính năng, vì vậy có người thường gọi 6 chiếc tàu mới này là “tàu sân bay hạt nhân lớp Roosevelt”, nhưng đây hoàn toàn không phải là cách phân lớp chính thức của Mỹ.

Tàu sân bay Theodore Roosevelt là tàu sân bay hạt nhân lớp Nimitz thứ tư của Mỹ. Theodore Roosevelt là vị Tổng thống thứ 26 của nước Mỹ.

Cũng giống như Theodore Roosevelt, vị Tổng thống thứ 26 của nước Mỹ, người ra sức mở rộng lãnh thổ, tàu sân bay Roosevelt rất giàu "tính tấn công". Ngày 12/1/1991, tàu Roosevelt bôn ba đường xa, đến Biển Đỏ (Hồng Hải). Trong chiến tranh vùng Vịnh, máy bay trên tàu này tới tấp cất/hạ cánh, mang theo các loại tên lửa và bom dẫn đường laser tiến hành bắn phá điên cuồng Iraq. Hạ tuần tháng 3/1999, tàu Roosevelt dẫn đầu đội quân trên 50 tàu chiến đã ồn ào tới vịnh hẹp Adriatic.

Sáng sớm ngày 25/3, máy bay gây nhiễu điện tử EA-6B của tàu Roosevelt cùng với máy bay trinh sát điện tử ES-3A cất cánh từ căn cứ Italia, đã tiến hành “tiêu diệt mềm” đối với hệ thống chỉ huy thông tin của Nam Tư. Sau đó, 13 tàu tuần dương, tàu khu trục và tàu ngầm hạt nhân thuộc hạm đội tàu Roosevelt đã sử dụng hàng trăm quả tên lửa hành trình Tomahawk, gây ra cuộc chiến “Ax” lớn nhất trong lịch sử. Sau 2 tuần, ngày 7/4, 24 chiếc Hornet cất cánh từ tàu Roosevelt lại điên cuồng bổ nhào xuống Nam Tư, liên tục rải bom chùm (bị luật pháp quốc tế cấm) vào các mục tiêu dân sự của Nam Tư, gây ra thương vong lớn cho dân thường Nam Tư.

Tàu sân bay Lincoln CVN72

Tàu Lincoln được đặt theo tên của vị Tổng thống thứ 16 của nước Mỹ, người lãnh đạo nước Mỹ trải qua cuộc nội chiến nam bắc, đó là Abraham Lincoln. Đây là tàu lớp Nimitz thứ 5, và là tàu thứ hai sử dụng tên gọi này của hải quân Mỹ. Chiếc tàu Lincoln đầu tiên là tàu ngầm hạt nhân lớp Washington mang tên USS Abraham Lincoln SSBN-602 hạ thủy năm 1960. Tháng 28/5/1991, tàu Lincoln chạy hướng Ấn Độ Dương, tham gia chiến tranh vùng Vịnh và đã hiện diện ở biển Ả Rập khoảng 3 tháng.

Tàu sân bay hạt nhân USS George Washington CVN-73 thường được gọi tắt là tàu Washington, mang tên người sáng lập nước Mỹ George Washington.

- Biên chế: 3.500 thủy thủ, 2.500 nhân viên hàng không, 72 lính thủy đánh bộ.
- Lượng choán nước: chuẩn 73.973 tấn, tối đa 102.000 tấn.
- Thân tàu: dài 332,8 m, rộng 40,8 m. Đường băng: dài 335,6 m, rộng 77,4 m. Mớn nước: 11,9 m.
- Vũ khí trang bị: 3 thiết bị phóng tên lửa hạm đối không Sea Sparrow, 4 hệ thống vũ khí cận chiến Phalanx, radar tìm kiếm đối không SPS-49.
- Máy bay: 10 – 14 chiếc máy bay chiến đấu F-14 Tomcat, 36 chiếc máy bay chiến đấu/tấn công F/A-18 Hornet, máy bay tác chiến điện tử EA-6B Prowler, máy bay cảnh báo sớm E-2C Hawkeye, máy bay chống tàu ngầm S -3B Viking, máy bay trinh sát điện tử ES-3A, máy bay trực thăng chống tàu ngầm SH-60F/HH-60H, 4 hệ thống phóng máy bay.
- Xăng dầu mang theo: 9.000 tấn.
- Thiết bị động cơ: 2 lò phản ứng hạt nhân A4W, 4 tuabin hơi nước.
- Công suất động cơ: 209.000 KW. Tốc độ tối đa: 35 hải lý/giờ.

Tàu sân bay Stennis CVN74

Tàu sân bay USS John C. Stennis CVN-74 hoặc gọi tắt là tàu sân bay Stennis, là tàu sân bay hạt nhân lớp Nimitz thứ 7 của Mỹ, hạ thủy năm 1993, biên chế chính thức ngày 9/12/1995, cảng chính là Bremerton ở Washington, hạm đội tàu sân bay Stennis là một trong những đơn vị vũ lực chủ lực của hải quân Mỹ ở nước ngoài.

Tàu sân bay USS John C. Stennis và liên đội máy bay số 9 của nó (CVW-9) có nhiệm vụ chính là có đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu liên tục trong các hành động quân sự toàn cầu. CVW-9 bao gồm 8 – 9 phi đội máy bay chiến đấu, sử dụng các loại máy bay như máy bay chiến đấu F/A-18 Hornet, máy bay tác chiến điện tử EA-6B Prowler, máy bay chống tàu ngầm S-3B Viking, máy bay cảnh báo sớm E-2C Hawkeye và máy bay trực thăng SH-60 Seahawk. CVW-9 có khả năng phá hủy các loại vũ khí như máy bay tác chiến, tàu chiến, tàu ngầm và mục tiêu mặt đất của đối phương, hoặc tiến hành nhiệm vụ thả mìn trên không từ xa. Vì vậy, nó thường được coi là lực lượng tấn công chủ yếu, chi viện cho chiến đấu mặt đất, bảo vệ an toàn cho hạm đội tàu sân bay và các chiến hữu khác, đồng thời còn có thể hoàn thành nhiệm vụ phong tỏa trên biển và trên đất liền.

Tàu sân bay USS John C. Stennis CVN-74 hoặc gọi tắt là tàu sân bay Stennis.

Khi làm nhiệm vụ thường trực, tàu sân bay Stennis thường đóng vai trò trung tâm của hạm đội tàu sân bay, hoặc thậm chí được sử dụng như là tàu chỉ huy, trong chiến đấu thường còn có 4 – 6 các loại tàu chiến khác hỗ trợ. Hai lò phản ứng hạt nhân giúp Stennis có khả năng chạy liên tục hầu như không hạn chế, tốc độ cao nhất đạt 35 hải lý/giờ. 4 máy phóng hơi nước và 4 cáp chắn trên tàu có thể đảm bảo cho máy bay cất/hạ cánh liên tục, còn đường băng xiên và diện tích đủ lớn có thể đồng thời tiến hành nhiệm vụ cất/hạ cánh của máy bay chiến đấu, nâng cao lớn hiệu suất tác chiến. Tuy bản thân sử dụng nguồn năng lượng hạt nhân là động lực, nhưng tàu Stennis vẫn mang theo khoảng 3 triệu gallon dầu nhiên liệu, chủ yếu là cung cấp cho máy bay và tàu hộ tống sử dụng.

Ngoài ra, nó còn cất trữ lượng lớn vũ khí đạn dược để đáp ứng nhu cầu phục vụ chiến đấu ở nước ngoài trong thời gian dài. Tàu Stennis có khả năng tự sửa chữa rất mạnh, trên tàu được phối thuộc một bộ phận duy tu để sửa chữa những máy bay bị hư hỏng giữa đường, một bộ phận sữa chữa trang bị vi điện tử và một vài bộ phận sửa chữa tàu chiến.

Về phương diện khả năng tự vệ, tàu Stennis ngoài việc dựa vào sự bảo vệ của liên đội máy bay số 9 và các tàu hộ tống khác, bản thân tàu này cũng được bố trí tên lửa phòng không tầm ngắn Sea Sparrow RIM-7 của NATO, hệ thống phòng thủ gần chống tên lửa Phalanx CIWS và hệ thống tác chiến điện tử SLQ-32.

Tàu sân bay Truman CVN75

Tàu sân bay USS Harry S. Truman CVN-75 là tàu sân bay động cơ hạt nhân lớp Nimitz thứ 8 của Mỹ, khởi công năm 1993, hạ thủy năm 1996, là một trong những siêu tàu chiến mới nhất thế giới. Tàu Truman đặt theo tên vị Tổng thống thứ 33 của nước Mỹ Harry Truman. Tàu này được biên chế cho Hạm đội Đại Tây Dương của Mỹ vào tháng 7/1998.

Tàu sân bay USS Harry S. Truman CVN-75 đặt theo tên vị Tổng thống thứ 33 của nước Mỹ Harry Truman.

- Biên chế: 3.500 thủy thủ, 2500 nhân viên hàng không, 72 lính thủy đánh bộ.
- Lượng choán nước: chuẩn 73.973 tấn, tối đa 105.500 tấn.
- Thân tàu: dài 332,8 m, rộng 40,8 m. Đường băng: dài 335,6 m, rộng 77,4 m. Mớn nước: 11,9 m.
- Vũ khí trang bị: 3 thiết bị phóng tên lửa hạm đối không Sea Sparrow, 4 hệ thống vũ khí cận chiến Phalanx, radar tìm kiếm đối không SPS-49.
- Máy bay: Máy bay chiến đấu/tấn công F/A-18 Hornet, máy bay tác chiến điện tử EA-6B Prowler, máy bay cảnh báo sớm E-2C Hawkeye, máy bay chống tàu ngầm S-3 Pirate, 4 máy phóng máy bay.
- Nhiên liệu cung cấp cho máy bay: 9000 tấn.
- Thiết bị động cơ: 2 lò phản ứng hạt nhân A4W, 4 tuabin hơi nước.
- Công suất động cơ: 209.000 KW. Tốc độ tối đa: 35 hải lý/giờ.

Tàu sân bay Ronald Reagan CVN76

Tàu sân bay USS Ronald Reagan CVN-76 là tàu sân bay hạt nhân lớp Nimitz thứ 9 của Mỹ, cũng là tàu sân bay đầu tiên của Mỹ sau khi bước vào thế kỷ 21. Con tàu này được hoàn thành hạ thủy năm 2001, được đặt theo tên vị Tổng thống Mỹ thứ 40 Ronald Reagan, cảng chính của tàu Reagan là San Diego, California, hiện nay phục vụ cho Hạm đội Thái Bình Dương của quân Mỹ.

Tàu sân bay USS Ronald Reagan CVN-76 được đặt theo tên vị Tổng thống Mỹ thứ 40 Ronald Reagan.

- NATO code: biệt danh Reagan.
- Tàu cùng cấp: cvn68, cvn69, cvn70, cvn71, cvn72, cvn73, cvn74, cvn75, cvn76.
- Hệ thống vũ khí: 3 máy phóng tên lửa Mk29 Sea Sparrow, 4 pháo MK15, 1 phi đội F-14 Panda, 3 phi đội F/A-18 Hornet, 4 chiếc EA-6B Prowler, 4 chiếc E-2C Hawkeye, 6 chiếc S-3 Viking, 2 chiếc E3B Shadow, 8 chiếc SH-60F Seahawk, hệ thống điện tử SH-3F Neptune SPS49 (V) 5, SPS48E (V) 3D đối không, SPS 67V đối biển, SPS64 (V) 9 dẫn đường, SQS 23 sonar.
- Chiều dài: 332,8 m.Chiều rộng: 40,8 m.Mớn nước: 11,9 m.
- Lượng choán nước: chuẩn 73.973 tấn; tối đa: 105.500 tấn.Tốc độ tối đa: 32 hải lý/giờ.
- Công suất máy chính: 205.800 KW. Biên chế: 6.093 người. Số lượng máy bay: 80 chiếc.

Tàu sân bay Bush CVN76

Tàu sân bay hạt nhân George H.W.Bush gọi tắt là tàu sân bay Bush. CVN-77 là sự tiếp nối cải tiến của CVN-76, đường băng không thay đổi lớn như ý tưởng ban đầu, làm nền cho thiết kế cải tiến CVN-78. Đây là con tàu lớp Nimitz cuối cùng của Mỹ. Theo tiết lộ của nguồn tin cấp cao hải quân Mỹ, CVN-77 là tàu thử nghiệm CVX của thế hệ tàu sân bay mới, một số công nghệ sẽ dùng thử trên CVN-77, sau khi hoàn thiện sẽ dùng để chế tạo tàu CVX.

Ngày 9/12/2002, chiếc tàu sân bay này chính thức được đặt tên là Bush. Tàu dài 332 m, từ đường mớn nước của thân tàu trở lên cao khoảng tòa nhà 20 tầng, có thể chở gần 6.000 thủy thủ và thủy quân lục chiến. Tốc độ tối đa 30 hải lý/giờ, lượng choán nước tối đa trên 100.000 tấn, có thể mang theo tối đa 100 máy bay, chi phí chế tạo 6,2 tỷ USD.

Tàu sân bay hạt nhân George H.W.Bush gọi tắt là tàu sân bay Bush.

Tàu sân bay Bush từ khi chế tạo đến nay đã được 8 năm, khởi công từ năm 2003, làm lễ đặt tên năm 2006. Sau khi hoàn thành thử nghiệm trên biển, ngày 10/1/2009 làm lễ biên chế tại căn cứ hải quân Norfolk, bắt đầu phục vụ chính thức cho hải quân Mỹ.

Tàu Bush là tàu tiên tiến nhất trong những tàu sân bay lớp Nimitz. So với tàu sân bay Ronald Reagan CVN 76, tàu sân bay Bush đã được cải tiến mang tính thực chất và đã áp dụng nhiều công nghệ mới. Chẳng hạn, đã sử dụng hệ thống vệ sinh chân không trên biển mới, hệ thống phân phối nhiên liệu mới (cho máy bay), còn có một lượng lớn hệ thống điều khiển và vật liệu đường ống mới. Những cải tiến này sẽ làm giảm chi phí cho tuổi thọ tàu sân bay.

Tàu sân bay lớp Nimitz là tàu chiến lớn nhất thế giới hiện nay, cũng là tàu sân bay tiên tiến nhất, đặc biệt là tàu George Bush. Do chế tạo muộn, nó đã sử dụng công nghệ tiên tiến hơn, mức độ hiện đại hóa cao hơn. Về động cơ, hai lò phản ứng hạt nhân trên tàu có thể cung cấp cho tàu chiến hoạt động 20 năm mà không cần thêm nhiên liệu.

Về mặt phòng thủ tự vệ, dù cho phòng thủ dưới nước, phòng thủ đối với tên lửa chống hạm, nó đều được coi trọng hơn, bao gồm hai mạn tàu, đáy tàu, kho chứa máy bay, đường băng đều có kết cấu 2 tầng, trong tàu có hàng chục vách ngăn kín nước dày, bộ phận dưới nước được tăng dày cho sàn tàu, khoang chống ngư lôi nhiều tầng.

Về phương diện khả năng tấn công, nó có thể mang nhiều nhất là gần 100 máy bay và có nhiều hệ thống phóng tên lửa đối không và pháo phòng thủ gần.

Do trong tương lai Mỹ sẽ thực hiện phương án thiết kế tàu sân bay hoàn toàn mới, cho nên là tàu sân bay cuối cùng thiết kế theo kiểu cũ, tàu George Bush đã thể hiện được nhiều công nghệ mới nhất hơn, ví dụ nó sở hữu radar và thiết bị dẫn đường tiên tiến hơn, dây cáp và ăng-ten đều được lắp đặt ở bên trong, từ đó làm nổi bật hơn khả năng tàng hình; mức độ quản lý tự động hóa của nó cao hơn, thức ăn vận chuyển 1 lần trên tàu có thể cung cấp cho 6000 binh sĩ cả tàu sử dụng trong vòng 90 ngày.

Tàu sân bay lớp Nimitz đầu tiên là Nimitz CVN-68 được biên chế năm 1975, tàu sân bay thứ 9 là Ronald Reagan CVN-76 được đưa vào sử dụng năm 2003, tàu sân bay tiếp theo là Gerald Ford CVN-78 sẽ được chế tạo theo phương án mới “tàu sân bay thế kỷ 21”. Tàu sân bay lớp Nimitz là tàu chiến lớn nhất thế giới, lượng choán nước vượt 100.000 tấn, dài 330 m, tốc độ trên 30 hải lý/giờ, mang theo tối đa gần 100 máy bay, trong điều kiện bình thường mang theo 60-70 máy bay và trực thăng.

Đức Trọng (Tổng hợp)

đọc tiếp »

Điểm mặt 7 tàu khu trục hàng đầu thế giới


BEE - Tàu khu trục là loại tàu chiến đa năng trên biển, có khả năng hỏa lực rất mạnh, tạo ra mối đe dọa rất lớn cho đối phương.

Tàu khu trục là loại tàu chiến được dùng để tiêu diệt tàu ngầm, tàu nổi và các chiến thuyền của đối phương, đồng thời cảnh giới cho tàu chiến cỡ lớn và lực lượng hộ tống vận tải trên biển phía mình. Ngoài ra, tàu khu trục còn được dùng để trinh sát, tuần tra, tấn công bờ biển, thả ngư lôi và thực hiện các nhiệm vụ khác, là "xương sống trên biển" đúng nghĩa.

Như vậy, tàu khu trục có khả năng tác chiến lập thể, có nhiều tiêu chuẩn để đánh giá tính năng. Bee giới thiệu 7 loại tàu khu trục lớn mang tính đại diện hiện nay:

1. Tàu khu trục lớp Arleigh Burke

Đây là tàu khu trục tên lửa mới nhất của hải quân Mỹ, là tàu khu trục đầu tiên trên thế giới được trang bị hệ thống hệ thống Aegis và tiến hành thiết kế tàng hình toàn diện, nhiệm vụ tác chiến và khả năng tác chiến gần bằng tàu tuần dương lớp Ticonderoga.

Tàu khu trục USS Nietzsche (DDG-94) lớp Afleigh Burke của hải quân Mỹ.

Trên tàu có nhiều loại vũ khí trang bị khác nhau, có thiết bị điện tử rất thông minh, lần đầu tiên sử dụng công nghệ phóng thẳng tên lửa, có khả năng tác chiến toàn diện đối đất, đối biển, đối không và chống tàu ngầm, nên nó được mệnh danh là "vệ sĩ" của hạm đội tàu sân bay Mỹ. Nó đại diện cho trình độ cao nhất của tàu khu trục hải quân Mỹ, được gọi là đỉnh cao của tàu nổi trên thế giới hiện nay.

Các thông số chính:

- Thời gian đưa vào sử dụng: tháng 7/1991.
- Lượng choán nước chuẩn: 6.625 tấn.
- Lượng choán nước tối đa: 8.422 tấn (loại I), 9.033 tấn (loại II), 9.217 tấn (loại IIA).
- Tốc độ tối đa: 32 hải lý/giờ.
- Khả năng chạy liên tục: 5.000 hải lý với vận tốc 20 hải lý/giờ.
- Hệ thống tác chiến: Aegis.
- Thiết bị phóng tên lửa: 2 hệ thống phóng thẳng MK41, bốn mô-đun cài đặt ở đầu, 8 mô-đun cài đặt ở đuôi, 29 viên đạn sẵn sàng ở đầu, 61 viên đạn sẵn sàng ở đuôi, tổng cộng lượng đạn sẵn sàng là 90.
- Tên lửa: tên lửa phòng không Standard của tàu, tên lửa hành trình Tomahawk, tên lửa chống tàu ngầm ASROC, tên lửa chống hạm Harpoon (từ chiếc Flatt thứ 24 trở đi được lắp đặt thêm tên lửa phòng không kiểu Ram).
- Pháo: 1 khẩu 127 mm MK45, 2 hệ thống pháo Phalanx 6 nòng 20mm MK15.
- Ngư lôi: 2 ống phóng ngư lôi MK32.
- Máy bay trực thăng: 2 máy bay trực thăng chống tàu ngầm Sea-Hawk loại SH-60B/F.

2. Tàu khu trục lớp Kongou

Tàu khu trục lớp Arleigh Burke phiên bản Nhật Bản, là sản phẩm đầu tiên Mỹ chuyển nhượng cho nước đồng minh hệ thống tác chiến phòng không Aegis và tàu khu trục lớp Arleigh Burke, vì vậy nó có hầu hết các đặc tính kỹ thuật của lớp Burke. Tàu khu trục lớp Kongou đã được nâng cao rất lớn về khả năng phòng không theo đội hình, thuộc 4 đội tàu hộ tống của Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản, có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện chiến lược phòng thủ viễn dương tích cực của Nhật Bản.

Tàu khu trục Chokai lớp Kongou của Nhật Bản.

Các thông số chính:

- Thời gian đưa vào phục vụ: tháng 3/1993.
- Lượng choán nước chuẩn: 7.250 tấn.
- Lượng choán nước tối đa: 9.485 tấn.
- Tốc độ tối đa: 30 hải lý/giờ.
- Khả năng chạy liên tục: 4500 hải lý với vận tốc 20 hải lý/giờ.
- Hệ thống tác chiến: Aegis.
- Pháo: 1 khẩu pháo chính cỡ nòng 127 mm của Italia, 2 hệ thống vũ khí tầm gần Phalanx.
- Thiết bị phóng tên lửa: đầu và đuôi tàu đều có 1 thiết bị phóng thẳng MK41.
- Tên lửa: loại Standard SM-2MR, tên lửa chống tàu ngầm ASROC, tên lửa chống hạm Harpoon.
- Ngư lôi: 2 ống phòng ngư lôi loại HOS-302 do Nhật Bản phỏng chế.

3. Tàu khu trục Type 45

Tàu khu trục Type 45 của hải quân Hoàng gia Anh là tàu chiến có tính năng tổng thể tiên tiến nhất trong số rất nhiều tàu phòng không cỡ lớn mới được chế tạo. Là tàu khu trục phòng không thế hệ mới, nó vừa có khả năng phòng không mạnh, vừa có khả năng tác chiến biển gần mạnh, đó là tấn công vào sâu trong lục địa. Đồng thời nó còn đảm nhiệm nhiệm vụ chống hạm, chống tàu ngầm, có thể tham gia một cách đa năng vào tác chiến liên hợp trên biển trên phạm vi thế giới của hải quân Hoàng gia Anh.

Tàu khu trục Bold D32 Type 45 của Anh

Các thông số chính:

- Thời gian đưa vào sử dụng: tháng 7/2009.
- Lượng choán nước chuẩn: 7.700 tấn.
- Lượng choán nước tối đa: 8.700 tấn.
- Tốc độ tối đa: 29 hải lý/giờ.
- Khả năng chạy liên lục: 7000 hải lý, với vận tốc 18 hải lý/giờ.
- Hệ thống tác chiến: PAAMS (hệ thống tên lửa phòng không chính).
- Pháo: 1 khẩu pháo chính cỡ nòng 114 mm.
- Thiết bị phóng tên lửa: hệ thống phóng thẳng MK41.
- Tên lửa: tên lửa hành trình chiến thuật Tomahawk, tên lửa phòng thủ loại tăng tầm phóng Standard 2 và loại Standard 3A.
- Trực thăng: Sử dụng trực thăng đa năng Merlin EH-101.

4. Tàu khu trục lớp Horizon

Đây là tàu khu trục phòng không thế hệ mới do Pháp và Ý cùng phát triển, nó đã tiếp thu tinh hoa của công nghệ quân sự châu Âu, tập trung được nhiều tính năng. Ngoài khả năng chi viện hỏa lực phòng không có hiệu quả cho tàu sân bay, nó còn có khả năng tác chiến chống tàu ngầm, chống hạm và tấn công bờ biển khá mạnh.

Tàu khu trục tàng hình Sherlock lớp Horizon của hải quân Pháp

Tàu khu trục lớp Horizon hỗ trợ rất lớn cho Pháp và Italia tăng cường sức mạnh quân sự trên biển ở Địa Trung Hải và khu vực Đại Tây Dương. Mô hình hợp tác thành công này sẽ là mô hình hợp tác của châu Âu trong phát triển tàu chiến.

Các thông số chính:

- Thời gian đưa vào sử dụng: tháng 12/2008 (phiên bản Pháp), tháng 12/2007 (phiên bản Italia).
- Lượng choán nước tối đa: 6.970 tấn (phiên bản Pháp), 6.700 tấn (phiên bản Italia).
- Tốc độ tối đa: 29 hải lý/giờ.
- Khả năng chạy liên tục: 7000 hải lý với tốc độ 17 hải lý/giờ.
- Hệ thống tác chiến: PAAMS (hệ thống tên lửa phòng không chính).
- Pháo: phiên bản Pháp trang bị 2 pháo 76 mm Otto Melara và 2 pháo 20 mm Jiyate, phiên bản Italia trang bị 3 pháo 76 mm Otto Melara và 2 pháo tự động 25 mm.
- Thiết bị phóng tên lửa: Thiết bị phóng thẳng Silva.
- Tên lửa: 16 quả Aster 15 và 32 quả Aster 30, tên lửa Exocet loại tăng tầm phóng MM40 (phiên bản Pháp), tên lửa MK3 Otto Matt.
- Ngư lôi: 2 thiết bị phóng ngư lôi, trang bị ngư lôi hạng nhẹ 324 mm loại MU-90 kiểu mới.
- Trực thăng: Phiên bản Pháp trang bị trực thăng NH-90, phiên bản Italia trang bị trực thăng NH-90 hoặc EH-101.

5. Tàu khu trục lớp King Sejong

Tàu khu trục cấp 1 do Hàn Quốc chế tạo có tính năng tàng hình tốt, đã trang bị tên lửa chống hạm Harpoon nổi tiếng của phương Tây, hệ thống phóng thẳng MK41, có khả năng phòng không và chống hạm khá mạnh, có khả năng tìm kiếm mục tiêu trên không và khả năng chiến đấu đa mục tiêu mà các tàu khu trục trước đây của Hàn Quốc không có. Sự xuất hiện King Sejong của Hàn Quốc báo hiệu hải quân Hàn Quốc bắt đầu đi ra đại dương, có ý nghĩa sâu rộng đối với Hàn Quốc.

Ngày 25/5/2007 tại thành phố cảng Ulsan đông nam, hải quân Hàn Quốc làm lễ hạ thủy chiếc tàu khu trục Aegis lớp King Sejong đầu tiên, đánh dấu Hàn Quốc trở thành nước thứ 5 sở hữu tàu khu trục Aegis kế tiếp sau Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nga và Na Uy. Tàu Kinh Sejong 7.600 tấn này có thể mang theo 16 quả tên lửa hạm đối hạm, 128 quả tên lửa hạm đối không và nhiều tên lửa hành trình, ngư lôi.

Ngày 25/5/2007 tại thành phố cảng Ulsan đông nam, hải quân Hàn Quốc làm lễ hạ thủy chiếc tàu khu trục Aegis lớp King Sejong đầu tiên, đánh dấu Hàn Quốc trở thành nước thứ 5 sở hữu tàu khu trục Aegis kế tiếp sau Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nga và Na Uy. Tàu Kinh Sejong 7.600 tấn này có thể mang theo 16 quả tên lửa hạm đối hạm, 128 quả tên lửa hạm đối không và nhiều tên lửa hành trình, ngư lôi.

Các thông số chính:

- Thời gian đưa vào sử dụng: tháng 12/2008.
- Lượng choán nước chuẩn: 7.700 tấn.
- Lượng choán nước tối đa: 10.000 tấn.
- Tốc độ tối đa: 30 hải lý/giờ.
- Khả năng chạy liên tục: 5500 hải lý.
- Vũ khí: 1 khẩu pháo 127 mm MK45 MOD4, 4 hệ thống tên lửa chống hạm tầm xa loại Sao biển SSM-700K, hệ thống vũ khí tầm gần Người gác cổng 30 mm, tên lửa đất đối không SM-2 Block IIIB, 32 quả tên lửa hành trình Basaltic IIIC, 16 quả tên lửa chống tàu ngầm K-ASROC Red Shark, 1 hệ thống phóng tên lửa RIM-116, 32 quả ngư lôi K745 LW Youth Torpedo.
- Trực thăng: Trực thăng West của Anh, trực thăng chống tàu ngầm Lynx.

6. Tàu khu trục lớp Udaloy II

Sự xuất hiện của tàu khu trục lớp Burke đã làm cho Nga ý thức được khoảng cách rất lớn về tàu chiến giữa mình với Mỹ. Trên nền tảng tàu chiến chống tàu ngầm cỡ lớn lớp Udaloy, Nga đã tích hợp các ưu điểm của lớp Modern, ví dụ lắp đặt thêm tên lửa chống hạm SS-N-22 Sunburn, chế tạo ra tàu khu trục lớp Udaloy II. Nhưng do Liên Xô tan rã, chỉ chế tạo được một chiếc Đô đốc Chabanenko.

Tàu khu trục chống tàu ngầm lớp Udaloy II của hải quân Nga

Khả năng tác chiến tổng hợp của Udaloy II tương đối mạnh, là tàu khu trục đa năng xương sống của hải quân Nga, có thể thực hiện các nhiệm vụ phòng không, chống hạm, chống tàu ngầm và hộ tống. Trong đó, khả năng chống tàu ngầm nổi bật hơn, được mệnh danh là “Vua chống tàu ngầm thế giới”. Nga từng nói rằng, về bất cứ phương diện nào, con tàu này đều không thua tàu khu trục lớp Arleigh Burke của Mỹ.

Các thông số chính:

- Thời gian đưa vào sử dụng: tháng 1/1999.
- Lượng choán nước chuẩn: 7.400 tấn.
- Lượng choán nước tối đa: 8.900 tấn.
- Tốc độ tối đa: 30 hải lý/giờ.
- Khả năng chạy liên tục: 6000 hải lý với vận tốc 20 hải lý/giờ.
- Pháo: 1 khẩu pháo AK-130.
- Tên lửa: 2 quả tên lửa chống hạm SS-N-22 Sunburn, 2 thiết bị phóng thẳng tên lửa phòng không SA-N-9 (64 quả sẵn sàng chiến đấu), 2 hệ thống phòng không tầm gần Kashtan.
- Ngư lôi: 2 ống phóng ngư lôi chống tàu ngầm 533 mm, được trang bị ngư lôi tự dẫn 406 mm.
- Vũ khí chống tàu ngầm ở đáy biển: 2 máy phóng tên lửa RBU-6000 12 nòng.
- Trực thăng: 2 trực thăng chống tàu ngầm Ka-27.

7. Tàu khu trục lớp Spruance

Đây là tàu khu trục chống tàu ngầm cấp 1 được hải quân Mỹ thiết kế để ứng phó với tàu ngầm hạt nhân của Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, sau đó nó được cải tiến nhiều lần để thích ứng với nhu cầu chiến tranh trên biển hiện đại, lắp đặt thêm nhiều vũ khí trang bị tiên tiến và hệ thống phóng thẳng, cuối cùng nó trở thành tàu khu trục cấp 1 có khả năng chống hạm, đối đất và phòng không rất mạnh, cùng với tàu khu trục lớp Arleigh Burke tạo nên đội hình chính của tàu khu trục hải quân Mỹ.

Tàu khu trục Kincaid lớp Spruance của hải quân Mỹ

Các thông số chính:

- Thời gian đưa vào sử dụng: tháng 9/1975.
- Lượng choán nước chuẩn: 5.770 tấn.
- Lượng choán nước tối đa: 8.040 tấn.
- Tốc độ tối đa: 33 hải lý/giờ.
- Khả năng chạy liên tục: 6000 hải lý với vận tốc 20 hải lý/giờ.
- Vũ khí: 2 pháo 127 mm MK-45, 2 pháo tốc độ nhanh MK-15 "Phalanx" 6 nòng, 4 súng máy 12,7 mm, 2 giàn phóng tên lửa "Harpoon", 1 giàn phóng tên lửa MK-29 (24 quả tên lửa "Sea Sparrow" luôn sẵn sàng), hệ thống phóng tên lửa thẳng MK-41 (61 quả tên lửa hành trình "Tomahawk" và tên lửa chống tàu ngầm "ASROC" luôn sẵn sàng), 2 ống phóng ngư lôi MK-32.
- Trực thăng: 1 trực thăng Ram Phillips.

Đức Trọng (Theo Mil)

đọc tiếp »

Hải quân Triều Tiên: Sức mạnh tiềm ẩn


DATVIET - Có lượng tàu chiến đông đảo, gồm tàu ngầm, tàu tên lửa, tàu phóng lôi… tổ chức thành 2 hạm đội, Hải quân Triều Tiên luôn tiềm ẩn sức mạnh không thể phủ nhận.

Ngày 9/9/1948 thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, ngay sau đó, Quân đội Triều Tiên ra đời (ngày 8/2/1948) gồm 3 quân chủng: Lục, Không và Hải quân.

Ngầm, nhanh, nhỏ, nhiều

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thực hiện chính sách “tiên quân chính trị” ưu tiên phát triển quốc phòng, đề cao vai trò quân đội. Chiến lược quân sự lấy “phòng thủ” làm hạt nhân, từng bước xây dựng khả năng “răn đe”, “tiến công”, xây dựng quân đội theo hướng “đông về quân số, nhiều về số lượng vũ khí trang bị”.

Nằm trong chủ trương này, Hải quân Triều Tiên được xây dựng theo hướng “ngầm, nhanh, nhỏ, nhiều, hiệu quả”. Lực lượng này có số lượng tàu ngầm rất lớn, khoảng 80 chiếc, góp phần cùng với Hàn Quốc, Mỹ, Nga, Nhật, Trung Quốc… biến vùng biển của nước này trở thành khu vực có mật độ tàu ngầm nhiều nhất thế giới.

Tàu ngầm Sango thường được Triều Tiên sử dụng cho nhiệm vụ tác chiến đặc biệt.

Trong biên chế lực lượng, Hải quân Triều Tiên có 22 tàu ngầm lớp Romeo, mỗi tàu trang bị 14 ngư lôi 533mm và 24 thủy lôi. Tiếp đó là 32 chiếc lớp Sango tự đóng, làm nhiệm vụ trinh sát, chở quân tác chiến đặc biệt có nhiều thiết bị chống ngầm của Nga. Sau cùng là tàu ngầm lớp SSI có trên 20 chiếc.

Tàu ngầm của Triều Tiên thuộc loại trung bình, kích thước nhỏ, không có vũ khí uy lực, hiện đại nhưng bù lại nước này có thể chủ động sản xuất, lấy số lượng bù chất lượng. Tàu ngầm Triều Tiên còn có ưu thế phù hợp địa hình, thủy văn.

Tên lửa chống hạm P-15.

Sức mạnh thứ hai của Hải quân Triều Tiên là hơn 600 tàu mặt nước với “3 đòn chủ công” là tàu tên lửa, tàu phóng lôi và tàu đổ bộ. Đặc điểm của các tàu mặt nước của Hải quân Triều Tiên là có lượng giãn nước nhỏ (vài trăm tấn) nhưng có tốc độ cao và phần lớn là hàng “nội địa”. Điển hình là hơn 40 tàu tên lửa cao tốc mang tên lửa chống hạm cận âm P-15 (định danh NATO là SS-N-2 Styx) hay CSS-N-1 (biến thể của P-15 do Trung Quốc sản xuất); 200 tàu phóng lôi (một nửa tự đóng) mang pháo 25 và 37mm, cùng nhiều loại ngư lôi… Như vậy, vũ khí “uy lực nhất”, “hiện đại nhất” trong lực lượng tàu mặt nước của Triều Tiên là P-15, thuộc lớp tên lửa chống hạm thế hệ đầu tiên của Liên Xô, phát triển từ những năm 1950.

Nỗi ám ảnh đền từ bờ biển Triều Tiên

Hải quân Triều Tiên không tổ chức Hải quân đánh bộ nhưng có lực lượng tác chiến đặc biệt trực thuộc Bộ quốc phòng gồm 3 loại trên bộ, trên không và trên biển. Khi tác chiến trên biển, lực lượng này sẽ phối hợp với các tàu hải quân.

Ngay trong thời bình, Hải quân và lực lượng tác chiến đặc biệt trên biển thường xuyên luyện tập. Đặc biệt, có 2 lữ đoàn “bắn tỉa” trên biển trực thuộc Bộ tư lệnh Hải quân trang bị hiện đại từ súng, pháo đến tên lửa đối hải đối không.

Trong biên chế, Hải quân Triều Tiên có 200 tàu đổ bộ, gồm: 100 chiếc tàu đổ bộ lớp Nampo có thể chở 50 lính; 8 tàu đổ bộ cỡ trung lớp Hantae có thể chứa 3-4 xe tăng hạng nhẹ và 350 lính. Hiện nay, Triều Tiên đẩy mạnh sản xuất tàu đổ bộ đệm khí lớp Kinh Bang được trang bị pháo 30 và 57mm và đã chế tạo được 125 chiếc loại này.

Triều Tiên không tổ chức hải quân đánh bộ nên các chiến dịch tác chiến đổ bộ đều phụ thuộc vào các đơn vị quân đặc nhiệm.

Lực lượng đổ bộ của Triều Tiên luôn là mối đe dọa thường trực, luôn xuất hiện trong tính toán phòng thủ của Hàn Quốc và Mỹ. Theo thông tin tình báo, từ căn cứ Goampo, Triều Tiên có thể đổ bộ vào 5 hòn đảo của Hàn Quốc, bao gồm cả Baeknyeong trong khoảng thời gian 30-40 phút với khoảng 70 tàu đổ bộ (mỗi tàu chở được 1 trung đội, di chuyển với tốc độ 90km/h). Cũng theo nguồn tin trên, Triều Tiên có 130 tàu đệm hơi khác bố trí ven biển.

Vì lý do đó, Hàn Quốc và Mỹ buộc phải thường xuyên tổ chức các cuộc tập trận có mục tiêu giả định là lực lượng đổ bộ của Triều Tiên. Thậm chí, phía Hàn Quốc cân nhắc triển khai trực thăng tấn công MD-500 Defence và đầu tư mua sắm nhiều rocket có điều khiển nhằm ngăn chặn các cuộc đổ bộ trong tương lai.

Ngoài 2 binh chủng tàu ngầm và tàu mặt nước, binh chủng thứ 3 của hải quân là các trung đoàn tên lửa và pháo bờ biển, gồm các tổ hợp: SSC-2B Samlet; CSS-2 Silkworm; CSSC-3 Seersucker.

Pháo bờ biển trong lực lượng Hải quân Triều Tiên là loại có cỡ nòng 122, 130, 152mm. Ngoài ra, có nhiều đơn vị pháo phòng không yểm trợ cho các trung đoàn trên. Triều Tiên không có không quân hải quân, nhiệm vụ tuần tiễu trên không ở vùng biển do không quân đảm trách.

Tốc độ hóa, tên lửa hóa, uy lực hóa

Từ trước chiến tranh 1950-1953, Triều Tiên đã cử hàng vạn thiếu niên ra nước ngoài học tập, nhằm xây dựng lực lượng “chất xám” phục vụ các nhiệm vụ quốc phòng.

Về ngân sách quốc phòng liên tục chiếm đến 17-18,7%GDP, có nền công nghiệp quốc phòng đủ khả năng sản xuất cả vũ khí thông thường lẫn hạt nhân, Hải quân Triều Tiên tiếp tục nghiên cứu đóng tàu ngầm, tàu khu trục, tàu hộ vệ để thay thế lớp cũ, phát triển tiềm lực trên biển, nhất là khả năng tiến công bằng tên lửa và vũ khí sát thương cao theo hướng tốc độ hóa – tên lửa hóa – uy lực hóa.

Hải quân Triều Tiên có 2 Bộ tư lệnh hạm đội. Hạm đội Hoàng Hải ở phía Tây trên căn cứ chính Nampo và 2 căn cứ lớn Pipagat, SagonNi có 300 tàu. Hạm đội Đông Hải có 400 tàu căn cứ chính Toejo và 2 căn cứ ở phía Đông lớn Najian, Wosan, ngoài ra cả 2 hạm đội còn có 9 căn cứ khác. Hiện nay, Hải quân Triều Tiên có 46.000 người, chưa kể bán vũ trang, dự bị. Có hơn 700 tàu gồm 80 tàu ngầm, hơn 300 tàu mặt nước, hơn 300 tàu đổ bộ, phục vụ.

Văn Tuấn

đọc tiếp »

Sức mạnh hải quân các nước Châu Á - Thái Bình Dương


DATVIET - Tạp chí Quân sự Châu Á (số ra tháng 5/2011) đã đưa ra thống kê số lượng tàu trong Hải quân các nước thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Dưới đây là con số cập nhật nhất về lực lượng hải quân các nước trong khu vực:

Indonesia

Với đặc điểm nhiều đảo và sở hữu vùng biển rộng lớn. Indonesia đã xây dựng một lực lượng hải quân đông đảo, trang bị hiện đại. Quân số thường trực của Hải quân Indonesia khoảng 74.000 người với biên chế 136 tàu các loại.

Hải quân Indonesia trang bị 9 khinh hạm chủ lực gồm: 5 tàu lớp Ahmad Yani, 4 tàu lớp Fatahillah. Các tàu này đều thiết kế với tổ hợp tên lửa chống hạm Harpoon và Exocet.

Hộ vệ hạm gồm: 4 chiến hạm lớp Sigma do Hà Lan đóng (Indonesia gọi là Diponegoro) lắp tổ hợp tên lửa Exocet và 16 hộ vệ chống ngầm lớp Parchim được mua lại từ Đức.

Tàu hộ vệ lớp Sigma của Hải quân Indonesia.

Về lực lượng tàu chiến cỡ nhỏ thì Indonesia có: 4 tàu tên lửa cỡ nhỏ lớp Mandau, 4 tàu tuần tra lớp Kakap, 4 tàu cao tốc tuần tra lớp Singa, 4 tàu lớp Todak, 8 tàu lớp Siada, và 7 chiếc Type 35/36.

Đơn vị tàu đổ bộ của Indonesia có: 6 tàu đổ bộ tank lớp Teluk Gelimanuk, 2 tàu lớp Teluk Sirebong. Chính phủ Indonesia ký hợp đồng mua tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Makassar (2 tàu được đóng ở Hàn Quốc và 2 tàu ở Indonesia dưới dạng chuyển giao công nghệ).

Đơn vị tàu quét mìn có: 2 tàu lớp Pulau Rengat, 2 tàu T43 và 9 chiếc lớp pulau Rote.

Đơn vị tàu hỗ trợ có: 1 tàu chở dầu Arun và 1 tàu bệnh viện lớp Tanjung Dalpele.

Về tàu ngầm, hiện tại Hải quân Indonesia biên chế 2 chiếc lớp Cakra đã được Hàn Quốc nâng cấp. Indonesia từng lên kế hoạch mua tàu ngầm tấn công lớp Amur và Kilo của Nga nhưng đều bị hủy bỏ. Dù vậy, giới lãnh đạo đất nước vạn đảo vẫn bày tỏ tham vọng sở hữu 39 tàu ngầm trong tương lai.

Malaysia

Hải quân Hoàng gia Malaysia được đánh giá là một trong những lực lượng sở hữu nhiều công nghệ tiên tiến nhất khu vực Đông Nam Á. Quân số thường trực có 14.000 người.

Số lượng khinh hạm chủ lực của Malaysia có: 2 tàu lớp Lekiu và 2 tàu lớp Kasturi. Ngoài ra, Malaysia còn có 4 tàu hộ vệ lớp Laksamana.

Tàu chiến cỡ nhỏ và tàu tuần tra gồm: 6 tàu tuần tra ven biển lớp Kedah, 6 tàu SGPV (dài 99 mét, lượng giãn nước 2.200 tấn được trạng bị vũ khí tốt hơn Kedah), 4 tàu cao tốc mang tên lửa lớp Handalan, 4 tàu cao tốc tên lửa lớp Perdana, 6 tàu pháo lớp Jerong, 2 tàu cao tốc lớp Sri Tiga, 15 tàu tuần tra lớp Kris và 12 tàu CB90.

Tàu ngầm tấn công Scorpene - bước đi đầu xây dựng lực lượng tàu ngầm Hải quân Malaysia.

Tàu quét mìn có 4 tàu lớp Mahamiru. Và 3 tàu làm nhiệm vụ hỗ trợ: 1 tàu lớp Gunga Mas Lima (mang được 10 trực thăng) và 2 tàu hỗ trợ chiến đấu lớp Sri Indera Sakti.

Trong khu vực Đông Nam Á, các quốc gia có vùng biển lớn đều dành sự quan tâm đặc biệt tới việc phát triển tàu ngầm – sức mạnh đáng sợ dưới lòng biển.

Malaysia cũng không phải ngoại lệ, năm 2002 Malaysia đã ký hợp đồng trị giá 1,4 tỷ USD mua 2 tàu ngầm tấn công lớp Scorpene từ Pháp. Năm 2009, chiếc đầu tiên đã được chuyển giao và đi vào hoạt động.

Myanmar

Hải quân Myanmar tổ chức với lực lượng khoảng 19.000 người và 122 tàu các loại. Hầu hết các tàu chiến và tên lửa của hải quân đều được nhập từ Trung Quốc.

Tàu tuần tiễu của Mymanmar.

Đội tàu chiến đấu chủ lực tốt nhất của Hải quân Myanmar gồm: 8 tàu hộ vệ lớp Anawratha (lắp tên lửa diệt hạm C-803) và 8 tàu lớp Aung Zeya (sử dụng tổ hợp tên lửa chống hạm C-802).

Đơn vị tàu chiến cỡ nhỏ gồm: 6 tàu cao tốc tên lửa lớp Houxin, 14 tàu pháo “5 Series”, 1 tàu pháo lớp Indaw, 10 tàu pháo lớp Hainan, 12 tàu tuần tiễu PGM và 3 tàu PB90.

Philippines

Hải quân Philippines sở hữu đội tàu chiến mỏng và ít hiện đại nhất trong khu vực Đông Nam Á. Quân số thường trực có khoảng 24.000 người.

Khinh hạm chủ lực lớn nhất của Philipine là chiếc BRP Rajah Humabon, một chiếc tàu già cỗi trang bị vũ khí kiểu cũ, thích hợp cho nhiệm vụ tuần tra bảo vệ ven biển.

Hộ vệ hạm gồm: 2 tàu lớp Rizal và 6 tàu lớp Miguel Malval.

Tàu chiến cỡ nhỏ có: 1 tàu lớp Mariano Alvarez, 3 tàu lớp emilio Jacinto, 2 tàu lớp Emilio Aguinaldo, 22 tàu lớp Jose Andrada, 2 tàu lớp PC 394, 3 tàu lớp Conrado Yap, 8 tàu lớp Tomas batillo và 2 tàu lớp Kagitingan.

Chiến hạm "ba nhất" của Hải quân Philipines.

Hầu hết các chiến hạm của Philipines đều từng phục vụ trong Hải quân Mỹ và các nước đồng minh của Washington. Các kiểu tàu đều thiết kế pháo kiểu cũ, tốc độ bắn chậm, độ chính xác kém, tầm bắn ngắn.

Hiểu được tầm quan trọng của việc giữ gìn vùng biển lớn, chính quyền Philipine trong những năm gần đây đã tiến hành chương trình hiện đại hóa hải quân. Philipine quyết định mua tàu tuần tra cỡ lớn lớp Hamilton từ lực lượng phòng vệ bờ biển Mỹ (tàu này có lượng giãn nước hơn 3.000 tấn). Ngoài ra, Philipine cũng tự thiết kế và “nhờ” Đài Loan chế tạo tàu cao tốc đa năng.

Singapore

Với nền kinh tế mạnh, Hải quân Singapore đã được chính phủ đầu tư khá nhiều tiền bạc cho việc mua sắm các thế hệ tàu mới, hiện đại nhằm bảo vệ vùng biển nước này cũng như đối phó với các mối nguy hiểm xâm phạm.

Đơn vị tàu chiến chủ lực gồm 6 khinh hạm lớp Formidable mua từ Pháp.

Lực lượng tàu chiến cỡ nhỏ có: 6 tàu lớp Victory và 11 tàu lớp Fearless (Singapore đang có kế hoạch thay thế lớp tàu này).

Khinh hạm Formidable của Singapore thiết kế với tính tự động hóa cao. Chiếc tàu có lượng giãn nước hơn 3.000 tấn nhưng thủy thủ đoàn điều khiển chỉ có 71 người.

Về tàu ngầm, Singapore mua lại các tàu đã qua sử dụng của Hà Lan gồm: 4 tàu lớp Conqueror và 2 tàu lớp Archer.

Tàu quét mìn có 4 chiếc lớp Bedok và 12 chiếc FB31-42.

Tàu đổ bộ có 4 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Endurance (lượng giãn nước 6.000 tấn) và 1 tàu đổ bộ tank lớp Perseverance.

Thái Lan

Trong khu vực Đông Nam Á, Hải quân Thái Lan có số quân thường trực đông đảo nhất lên tới 101.000 người (gồm cả Hải quân đánh bộ).

Thái Lan là nước đầu tiên và duy nhất tính tới thời điểm hiện tại sở hữu tàu sân bay (tàu Chakri Naruebet).

Khinh hạm chủ lực có: 2 tàu lớp Phutthayofta (mua lại từ Mỹ), 2 tàu lớp Naresuan, 4 tàu lớp Chao Praya.

Tàu hộ vệ có: 2 tàu lớp Pattanakosin, 2 tàu lớp Tapi và 3 tàu lớp Khamronsin.

Khinh hạm HTMS Naresuran do Trung Quốc đóng nhưng trang bị vũ khí của Mỹ. Tàu thiết kế cải tiến từ mẫu Type 053.

Tàu chiến đấu hạng nhẹ có: 2 tàu tuần tra ven biển lớp Pattani, 3 tàu lớp Hua Hin, 3 tàu pháo lớp Chonburi, 2 tàu cao tốc mang tên lửa lớp Rajcharit, 3 tàu cao tốc tên lửa lớp Prabbrorapak, 6 tàu tuần tra lớp Sattahip, 6 tàu T-991.

Tàu quét mìn có: 2 tàu lớp Lat Ya, 2 tàu lớp Bangrachan, 2 tàu lớp Bangkaew, 1 tàu lớp Thalang.

Tàu đổ bộ có: 2 tàu đổ bộ xe tăng lớp Sichang, 3 tàu đổ bộ đệm khí lớp Griffon 100TD. Thái Lan đang đặt mua 1 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Endurance.

Ngoài ra, Thái Lan có kế hoạch mua ít nhất 6 tàu ngầm Type 206A đã qua sử dụng của Đức với giá 257 triệu USD.

Trung Quốc

Tàu khu trục gồm: 4 tàu lớp Sovremenny (mua của Nga), 2 tàu lớp Shenyak (Type 051C), 2 tàu lớp Langzhou (Type 052C), 1 tàu lớp Shenzen (Type 051B), 2 tàu lớp Harbin và 13 tàu lớp Zuhai.

Khinh hạm gồm: 8 tàu lớp Jiangkai II (Type 054A), 2 tàu lớp Jiangkai I (Type 054), 14 tàu lớp Jiangwei I/II và 23 tàu lớp Jianghu I/II/III.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ có: 18 tàu cao tốc tên lửa lớp Houxin, 5 tàu tên lửa lớp Huijan, 50 tàu tên lửa lớp Houbei, 95 tàu tuần tra lớp Hainan và 90 tàu tuần tra cao tốc Huchuan Hydrofoli.

Khinh hạm lớp Jiangkai II (Type 054A).

Tàu quét mìn có 28 tàu loại T43. Lực lượng tàu đổ bộ có: 2 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Yzhao (Type 071), 20 tàu đổ bộ tank lớp Yuting và 28 tàu đổ bộ hạng trung lớp Yudao/Yulin. Ngoài ra, Trung Quốc đóng 6 tàu chở trực thăng Type 081.

Lực lượng tàu ngầm Trung Quốc có: 2 tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Jin (Type 094), 1 tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Xia (Type 092), 2 tàu ngầm tấn công lớp Shang (Type 093), 5 tàu lớp Song, 5 tàu lớp Yuan (Type 041), 10 tàu Kilo thuộc project 636), 2 tàu Kilo thuộc project 877EKM, 14 tàu lớp Minh và 8 tàu lớp Romeo (dùng cho việc huấn luyện thủy thủ).

Brunei

Hải quân Hoàng gia Brunei tổ chức nhỏ nhưng trang bị khá tốt. Nhiệm vụ chủ yếu là tìm kiếm cứu nạn và bảo vệ lãnh hải quốc gia.

Lực lượng tàu chiến đấu có: 3 tàu hộ vệ mang tên lửa có điều khiển lớp Darussalam, 3 tàu cao tốc tên lửa lớp Waspada, 3 tàu tuần tra lớp Perwira, 4 tàu tuần tra lớp Ijhtihad.

Mặc dù, Brunei ký hợp đồng với BAE System đóng mới 3 tàu hộ vệ tên lửa lớp Nakhodam Ragam nhưng do không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật đặt ra nên toàn bộ số tàu này Brunei đã từ chối nhận.

Cambodia

Hải quân Hoàng gia Cambodia trang bị khá mỏng gồm: 4 tàu tuần tiễu lớp Stenka và 5 tàu lớp Schmel.

Australia

Hải quân Hoàng gia Australia có quân số thường trực 14.000 người trang bị 58 tàu các loại.

Khinh hạm chiến đấu chủ lực gồm: 8 tàu lớp Anzac và 4 tàu lớp Adelaide.

Đơn vị tàu ngầm gồm: 3 tàu ngầm điện – diesel lớp Collin. Đây được coi là loại tàu ngầm truyền thống lớn nhất thế giới và là thiết kế "đầu tay" của Australia.

Khinh hạm chiến đấu chủ lực lớp Anzac của Australia.

Tàu quét mìn gồm: 6 tàu lớp Huon, 2 tàu MSA và 2 tàu CDT.

Tàu chiến cỡ nhỏ gồm: 14 tàu tuần tra cỡ nhỏ lớp Armidale chuyên làm nhiệm vụ tuần tra ven biển, bảo vệ ngư trường.

Tàu đổ bộ gồm: 6 tàu lớp Balikpapan, 1 tàu lớp Tobruk, 2 tàu lớp Kanimbla (vận chuyển binh lính và trực thăng). Australia đang đóng 2 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Canberra (lượng giãn nước tới 27.800 tấn). Dự kiến chúng đi vào phục vụ năm 2014-2016.

Tàu hậu cần gồm hai tàu tiếp dầu thuộc lớp Durance và Sirius.

Theo sách trắng quốc phòng Australia công bố năm 2009 thì họ có kế hoạch thay thế tất cả tàu tuần tra, tàu quét mìn bằng 20 tàu đa năng với tổng giá trị chương trình khoảng 1,5 tỷ USD.

Bangladesh

Hải quân Bangladesh tổ chức với 19.000 quân thường trực (gồm 4.000 nhân viên dân sự), chủ yếu làm nhiệm vụ tuần tra ven biển.

Khinh hạm chủ lực có: 1 tàu BNS Bangabandhu, 1 tàu mang tên Khalid Bin Walid (thiết kế DW2000H của Hàn Quốc), 2 tàu lớp Jianghu (Trung Quốc đóng), 1 tàu lớp Salibury (mua lại từ Anh) và 2 tàu lớp Leopard (mua của Anh).

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ gồm: 2 tàu tuần tra ven biển lớp Castle, 5 tàu lớp Island, 1 tàu tuần tra lớp Sea Dragon, 1 tàu lớp Hainan, 2 tàu lớp Haizhui, 2 tàu lớp Karnaphuli, 3 tàu cao tốc lớp Huangfen, 5 tàu cao tốc mang tên lửa lớp Hegu, 4 tàu tuần tiễu lớp Huchuan, 4 tàu cao tốc lớp Shanghai II và 4 tàu cao tốc lớp Sea Dolphin.

BNS Bangabandhu - chiến hạm chủ lực hiện đại nhất Hải quân Bangladesh.

Tàu quét mìn gồm: 4 tàu lớp Shapla và 1 chiếc lớp T43.

Tàu đổ bộ gồm: 2 tàu lớp Shah Poran, 3 tàu lớp Yuchin, 3 tàu LCVP.

Theo một số nguồn tin, Bangladesh bày tỏ mối quan tâm tới 3 tàu lớp Pohang (Hàn Quốc) và 2 tàu F-22P của Trung Quốc.

Ấn Độ

Hải quân Ấn Độ được xếp vào hàng lớn trên thế giới với 67.000 quân thường trực và 170 tàu các loại.

Tàu sân bay có: 1 tàu sân bay hạng nhẹ Viraart (phục vụ tới năm 2018), 1 tàu Vikramaditya (đang được phía Nga nâng cấp hoàn thiện, dự kiến sẽ đi vào hoạt động năm 2013) và 1 tàu sân bay tự đóng (dự kiến hoàn thành năm 2015).

Khu trục hạm gồm: 3 tàu lớp Delhi (3 chiếc đang đặt hàng), 5 tàu lớp Rajput, 4 tàu lớp Kolkata đang đóng.

Khinh hạm gồm: 3 tàu lớp Talwar (3 chiếc đang đặt hàng), 3 tàu lớp Brahmaputra, 4 tàu lớp Godvari, 4 tàu lớp Nilgiri và 1 tàu lớp Shivalik (2 chiếc đang đặt hàng).

Hộ vệ hạm gồm: 6 tàu lớp Suyanka (trong đó có một tàu trang bị tên lửa đạn đạo tầm ngắn Dhanush), 4 tàu lớp Khukri, 4 tàu lớp Kora, 4 tàu lớp Durg (hay còn gọi là lớp Nanuchka của Nga), 12 tàu lớp Veer (Taratul I), 2 tàu lớp Prabal (Taratul IV), 4 tàu lớp Abhay (Pauk II) và 4 tàu săn ngầm tàng hình lớp Kamorta đang chế tạo.

Khinh hạm tàng hình Shivalik.

Hạm đội tàu ngầm gồm: 10 tàu ngầm lớp Sindhughosh (Kilo), 4 tàu lớp Shishumar, 1 tàu ngầm hạt nhân chiến lược lớp Arihand (5 chiếc đang đặt hàng), 1 tàu Akula II (Ấn Độ thuê của Nga), 2 tàu DSRV và 6 tàu ngầm Scorpene đang đóng.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ gồm: 5 tàu lớp Super Dvora II, 4 tàu lớp Trinkat, 4 tàu SD Mk2/3M và 4 tàu Sankalp.

Tàu quét mìn gồm: 12 tàu lớp Pondichery (đã được nâng cấp thiết bị của Thales), 6 tàu lớp Mahe và 2 tàu lớp Osprey (mua lại của Mỹ). Ngoài ra, Ấn Độ lên kế hoạch đóng 8 tàu quét mìn chị giá 1,4 tỷ USD.

Tàu đổ bộ gồm: 1 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Jalashwa, 5 tàu lớp Polnocny, 3 tàu đổ bộ tank lớp Shadul, 2 tàu đổ bộ tank lớp Magar và 6 ca nô đổ bộ.

Nhật Bản

Lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật Bản được đánh là một trong những lực lượng hải quân lớn nhất thế giới và lớn thứ hai ở châu Á. Quân số thường trực của quân phòng vệ khoảng 46.000 người với 110 tàu các loại.

Hải quân phòng vệ biên chế 2 tàu chở trực thăng loại 18.000 tấn lớp Hyuga. Nó có thể chở 11 trực thăng cùng đơn vị đổ bộ.

Khu trục hạm gồm: 2 tàu lớp Atago, 2 tàu lớp Kongo (chuẩn bị lắp hệ thống tên lửa đánh chặn SM-3), 2 tàu lớp Hatakaze, 1 tàu lớp Tachikaze, 2 tàu lớp Shirane (tương lai sẽ thay thế bởi loại 22DDH), 2 tàu lớp Haruna, 5 tàu lớp Takanami, 6 tàu lớp Murasame, 7 tàu lớp Asagiri, 9 tàu lớp Hatsuyuki.

Khinh hạm gồm: 2 tàu lớp Yubari và 6 tàu lớp Abukuma.

Tàu chở trực thăng lớp Hyuga.

Hạm đội tàu ngầm gồm: 3 tàu ngầm tấn công lớp Soryu (4 chiếc đang đóng), 11 tàu lớp Oyashio (sẽ được nâng cấp để kéo dài tuổi thọ) và 2 tàu lớp Harushio (dùng cho nhiệm vụ huấn luyện thủy thủ).

Tàu quét mìn gồm: 2 tàu lớp Uraga, 3 tàu lớp Yaeyama, 7 tàu lớp Uwajima, 3 tàu lớp Hirashima và 12 tàu lớp Sugashima.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ có 6 chiếc lớp Hayabuss.

Tàu đổ bộ gồm: 3 tàu đổ bộ tank lớp Osumi, 2 tàu đổ bộ phục vụ lớp I-Go, 2 tàu đổ bộ lớp Yura.

Chính phủ Nhật Bản có kế hoạch mở rộng hạm đội tàu ngầm từ 16 lên 20-22 chiếc và nâng số khu trục lên 47-48 chiếc.

Triều Tiên

Hải quân Triều Tiên được tổ chức quân số thường trực 46.000 người và trang bị 708 tàu các loại. Tuy nhiên, hầu hết chiến hạm đều nhỏ, cũ, thiết bị lạc hậu.

Khinh hạm lớn nhất của Triều Tiên gồm: 2 tàu lớp Najin và 1 tàu lớp Soho.

Hạm đội tàu ngầm gồm: 25 tàu lớp Romeo, 4 tàu lớp Whiskey, 20-25 tàu lớp Sang-O, 4-8 tàu lớp Sang-O II và 40-50 tàu lớp Yugo.

Khinh hạm lớp Najin trang bị hai tên lửa diệt hạm CSS-N-1.

Lực lượng tàu chiến đấu nhỏ của Triều Tiên là bộ phận lớn nhất gồm: 18 tàu cao tốc tên lửa lớp Soju, 12 tàu tên lửa lớp Osa, 10 tàu tên lửa lớp Komar, 9 tàu tên lửa lớp Sohung, 24 tàu phóng lôi P-6, 6 tàu tuần tra lớp Hainan, 18 tàu phóng lôi lớp Anju, 62 tàu lớp Chaho, 52 tàu lớp Chong Jin, 13 tàu lớp Shang hai II, 18 tàu lớp Sinpo/Sinnam, 12 tàu lớp Tae Chong, 12 tàu lớp Iwon, 37 tàu lớp Sin-Hung, 88 tàu lớp Ku Song, 4 tàu lớp Sariwan, 15 tàu lớp SO1.

Tàu đổ bộ gồm: 8 tàu đổ bộ phục vụ lớp Hantae, 16 tàu lớp Hungnam, 100 ca nô đổ quân lớp NamPo, 7 xà lan đổ bộ tự hành hạng trung lớp Hanchon và 70 tàu đổ bộ đệm khí lớp Songiong.

Hàn Quốc

Quân số thường trực của Hải quân Hàn Quốc khoảng 68.000 người, được trang bị 170 tàu các loại. Tuy ít hơn Triều Tiên về số lượng tàu nhưng đây đều là các chiến hạm hiện đại hơn rất nhiều.

Khu trục hạm gồm: 3 tàu lớp Sejong Daewang (1 chiếc đang hoàn thiện), 6 tàu lớp Chungmugong Yi Sun Shin (dự kiến 6 tàu nữa sẽ tiếp tục chế tạo và lắp hệ thống chiến đấu Aegis), 3 tàu lớp King Kwanggaeto.

Khinh hạm gồm: 8 tàu lớp Ulsang (sẽ sớm được thay thế bằng chương trình FFX) và 3 tàu lớp Ulsan I.

Hộ vệ hạm có 22 chiếc lớp Pohang, loại tàu này trong tương lai sẽ thế bằng chương trình FFX Ulsan-I.

Tàu khu trục vua Sejong của Hải quân Hàn Quốc.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ gồm: 14 tàu cao tốc lteen lửa lớp Yoon Young Ha-Ham và 80 tàu pháo cao tốc lớp Chamsuri.

Hạm đội tàu ngầm gồm: 3 tàu ngầm lớp Son Won II (6 chiếc đang đặt hàng), 6 tàu lớp Chang Bogo (Type 209), 3 tàu lớp Tolograe và 7 tàu lớp Cosmos.

Tàu đổ bộ gồm: 1 tàu đổ bộ có boong phóng máy bay lớp Dokdo (kế hoạch đóng thêm 3 chiếc), 4 tàu đổ bộ tank lớp Gojun, 4 tàu lớp Alligator và 1 tàu LSMR.

Tàu quét mìn gồm: 3 tàu lớp Yangyang-AM, 6 tàu Ganggyeong và 8 tàu MSC.

Pakistan

Khinh hạm chiến đấu chủ lực gồm: 3 tàu Type 21 của Anh chế tạo (Pakistan gọi là lớp Tariq), 6 tàu lớp Zulfiquar (F-22P) và 1 tàu lớp Almgir (vốn là khinh hạm lớp Oliver Hazard Perry của Mỹ).

Tàu ngầm gồm: 3 tàu lớp Khalid (Agosta 90B), 2 tàu lớp Hashmat (Agosta 70) và 3 tàu SX 404.

"Thanh gươm" Zulfiquar do Trung Quốc chế tạo.


Tàu chiến đấu cỡ nhỏ gồm: 1 tàu lớp Larkana, 2 tàu lớp Quwwat và 2 tàu lớp Jalalat II.

Tàu quét mìn có ba chiếc lớp Mujahid.

Tháng 2/2011, trong một cuộc thử nghiệm trên biển thì khinh hạm Alamgir gặp tai nạn và hỏng hoàn toàn. Pakistan đề ra kế hoạch mua 4 khinh hạm săn ngầm Jiangkai I (Type 054) của Trung Quốc và 6 tàu ngầm lớp Yuan (Type 041).

Đài Loan

Hải quân Đài Loan có quân số thường trực khoảng 38.000 người.

Khu trục hạm có 4 chiếc thuộc lớp tàu Kidd do Mỹ đóng (Đài Loan đặt lại tên là Kee Lung).

Khinh hạm gồm: 8 tàu lớp Chengkung (sửa đổi cải tiến từ thân tàu Oliver Hazzard Perry của Mỹ), 6 tàu lớp Kang Dinh (cải tiến từ lớp La Fayette của Pháp) và 8 tàu lớp Chi Yang (mua lại của Mỹ).

Khinh hạm hiện đại lớp Kang Dinh.

Tàu chiến đấu cỡ nhỏ gồm: 12 tàu tuần tra ven biển lớp Ching chiang, 35 tàu cao tốc tên lửa lớp Hai Ou, 2 tàu cao tốc tên lửa lớp Lung ching và 2 tàu lớp Sui Kiang, 9 tàu tuần pháo tuần tiễu lớp Hai Ou.

Tàu ngầm có 2 tàu ngầm lớp Hailung (mua lại của Hà Lan) và 2 tàu lớp Hai Shih chuyên làm nhiệm vụ huấn luyện thủy thủ.

Tàu quét mìn gồm 2 tàu lớp Ospry, 5 tàu lớp Yung Feng, 4 tàu lớp Yung yang và 4 tàu lớp Adjutant.

Tàu đổ bộ và hậu cần gồm: 2 tàu đổ bộ tank lớp Chungho, 1 tàu đổ bộ có boong hạ cánh máy bay lớp Shui Hai, 1 tàu vận tải lớp Yuen Feng, 1 tàu chở dầu lớp Wu Yi.

Phương Đông (theo Asianmilitaryreview)

đọc tiếp »
of
 
Đối tác | Phong thuy | Tài Chính - Kế Toán | Truyện Tranh Online | Code1k.com | Movang.info | Quần Áo Rẻ Đẹp | 123 Mua Nhanh | SucManhSEO™ | Dịch Thuật Việt |

Hot Defence | ©2008 - 2010 All Rights Reserved by Khanh Nguyen | Website được xây dựng trên nền Blogspot | Xem tốt nhất trên trình duyệt FireFox.

Xin liên hệ Khanh Nguyen qua số ĐT: 016.93.94.95.96
Lượt khách : xxxxx Lượt truy cập : xxxxx
Đầu trang
Giữa trang
Cuối trang